M
10:13 | 26/04/2018

Góc nhìn của giám đốc ILO về CPTPP

Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ Xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) được Việt Nam và 10 quốc gia ký kết vào ngày 8/3, trong đó, quyền về lao động là một trong những vấn đề chính trong vòng đàm phán cuối cùng của CPTPP trước khi ký kết. Để hiểu thêm về vấn đề này, phóng viên đã có cuộc trao đổi với ông Chang-Hee Lee – Giám đốc Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) tại Việt Nam.

goc nhin cua giam doc ilo ve cptpp Tìm giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trước thềm CPTPP
goc nhin cua giam doc ilo ve cptpp Giảm thiểu lao động trẻ em vẫn đang là thách thức

PV: Xin ông có thể cho biết ý nghĩa của chương về lao động trong CPTPP đối với Việt Nam?

goc nhin cua giam doc ilo ve cptpp

- Ông Chang-Hee Lee: Chương 19 về lao động trong Hiệp định CPTTP dựa trên Tuyên bố năm 1998 của ILO. Chương này cũng đưa ra mối liên hệ giữa việc thực hiện Tuyên bố năm 1998 của ILO với các điều kiện thương mại trong một khuôn khổ thời gian nhất định, bao gồm cả các biện pháp trừng phạt có thể áp dụng.

Các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới yêu cầu tất cả các nước tham gia phải thông qua và duy trì các quyền được nêu trong Tuyên bố năm 1998 của ILO trong pháp luật, thể chế và thông lệ của họ.

Các quyền này được quy định trong 8 công ước cơ bản của ILO, với nền tảng là: 1) Tự do liên kết và công nhận hiệu quả quyền thương lượng tập thể (được quy định trong Công ước ILO số 87 và 98); 2) loại bỏ tất cả các hình thức lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc (Công ước ILO số 29 và 105); 3) xoá bỏ lao động trẻ em (Công ước ILO số 138 và 182); 4) xóa bỏ phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp (Công ước ILO số 100 và 111).

Tất cả các quốc gia thành viên của ILO, bao gồm Việt Nam, đều phải tôn trọng các quyền này. Đây được coi là những quyền được ghi nhận trên toàn thế giới trong xã hội hiện đại. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn chưa phê chuẩn 3 công ước cơ bản (Công ước số 87, 98 và 105) liên quan đến tự do liên kết, quyền thương lượng tập thể và loại bỏ lao động cưỡng bức.

Khi CPTTP được ký kết, có nhiều ý kiến lo ngại quyền tự do liên kết sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động công đoàn hiện nay? Quan điểm của ông về vấn đề này ra sao?

- Tự do liên kết là một nguyên tắc định hướng mang tính phổ quát của quan hệ lao động hiện đại, không phân biệt giai đoạn phát triển kinh tế - đó là nền tảng cho quan hệ lao động không chỉ ở các quốc gia đã phát triển, mà còn ở các nước thu nhập thấp. Đây là quyền con người cơ bản và là quyền lao động, được tất cả các nước thành viên ILO và Liên Hợp Quốc công nhận.

Việc chuyển đổi hướng tới quan hệ lao động dựa trên tự do liên kết có thể được quản lý và điều phối để xây dựng hệ thống quan hệ lao động có mức độ ổn định chính trị xã hội cao hơn. Tôi tin tưởng rằng Việt Nam có đầy đủ điều kiện để thực hiện tốt quá rình chuyển đổi sang hệ thống quan hệ lao động dựa trên tự do liên kết với sự ủng hộ của các đối tác xã hội (Tổng LĐLĐ Việt Nam và VCCI) dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Sau tất cả, chính Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh) là người mà gần 100 năm về trước, vào năm 1919, đã ủng hộ quyền tự do liên kết cho tất cả nhân dân Đông Dương. Ông là người có tầm nhìn xa. Cách đây một thế kỷ, điều này đã khả thi, vậy nên, quyền tự do liên kết cũng hoàn toàn có thể thực hiện được trong thời kỳ hiện nay.

Cụ thể hơn, ông có thể cho biết CPTPP có tác động như thế nào tới tổ chức Công đoàn và người lao động? Và Công đoàn Việt Nam cần làm gì để đáp ứng với yêu cầu mới?

- Hiệp định CPTPP và cả EU-Việt Nam FTA đều yêu cầu Việt Nam tôn trọng và thúc đẩy Tuyên bố năm 1998 của ILO, đặc biệt là Công ước số 87 về tự do liên kết và Công ước số 98 về quyền thương lượng tập thể.

Tóm lại, điều này yêu cầu Công đoàn phải thực sự là Công đoàn – hay theo cách khác, Công đoàn trở thành tổ chức của người lao động, như Công đoàn ở hầu hết các nước thành viên của ILO. Tôi cho rằng đây là cơ hội vàng đối với hệ thống công đoàn của Tổng LĐLĐ Việt Nam để hiện đại hoá tổ chức và chức năng nhằm đại diện tốt hơn cho tiếng nói của người lao động.

Nhằm đáp ứng công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng, Công đoàn Việt Nam đã có những điều chỉnh về chức năng, trong đó nhấn mạnh hơn vào việc đại diện cho tiếng nói của người lao động thông qua thương lượng tập thể. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều điểm yếu. Từ giữa những năm 1990 tới nay, đã có hơn 6.000 cuộc đình công diễn ra và tất cả đều là đình công tự phát và không do Công đoàn lãnh đạo.

Đây là dấu hiệu rõ ràng cho thấy người lao động không cảm thấy những yêu cầu và quyền của họ được giải quyết và quy trình giải quyết vấn đề không vận hành hiệu quả. Tại Việt Nam, không hiếm gặp trường hợp lãnh đạo Công đoàn cơ sở là các quản lý cấp cao của doanh nghiệp. Đây là điều không thể chấp nhận ở hầu hết các quốc gia trên thế giới hiện nay.

Quyền Công đoàn là quyền của người lao động. Phần lớn các quốc gia thành viên của ILO đều có những điều khoản pháp luật nhằm đảm bảo Công đoàn độc lập với chủ sử dụng lao động, không bị can thiệp hoặc chịu sự phân biệt đối xử của người sử dụng lao động.

Công đoàn có quyền tự chủ quản lý các công việc nội bộ của họ, không bị can thiệp về hành chính, trong khuôn khổ các nguyên tắc quy định bởi pháp luật quốc gia và theo các tiêu chuẩn lao động quốc tế. Và đây cũng là những quy định và nguyên tắc phổ quát của Công đoàn và quan hệ lao động, được thể hiện trong Tuyên bố năm của ILO và cũng chính là các yêu cầu của Hiệp định CPTPP và EU-Việt Nam FTA.

Việt Nam đang sửa đổi Bộ Luật Lao động. Theo ông, những lĩnh vực cụ thể nào cần được sửa đổi để đáp ứng yêu cầu của chương lao động trong Hiệp định CPTPP?

- Các chương về quan hệ lao động có vai trò mấu chốt đối với không chỉ Hiệp định CPTPP và EU-Việt Nam FTA, mà còn là mục tiêu tổng quát hiện đại hoá cách thức lao động được quy định tại Việt Nam trong thời kỳ hiện đại. Tôi hiểu rằng Chính phủ Việt Nam đang thực hiện việc sửa đổi Bộ luật Lao động theo hướng những yêu cầu đặt ra trong Hiệp định CPTPP và EU-Việt Nam FTA.

Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, điều kiện cho người lao động, bao gồm tiền lương, được quyết định thông qua đối thoại xã hội và thương lượng tập thể, giữa đại diện người lao động và người sử dụng lao động, được trao quyền và điều chỉnh bởi các luật và quy định liên quan đến quan hệ lao động.

Đây là điểm yếu trong Bộ luật Lao động hiện hành, cần phải cải thiện để phù hợp với Tuyên bố năm 1998 của ILO. Trong quá trình sửa đổi Bộ luật Lao động, cần cân nhắc đến việc phê chuẩn các Công ước số 98 và 87, vì các công ước này đưa ra những nguyên tắc phổ quát dựa trên quan hệ lao động hiện đại được xây dựng ở hầu hết các nước thành viên của ILO.

Bên cạnh đó, vẫn còn nhiều vấn đề quan trọng sẽ ảnh hưởng tới doanh nghiệp, người lao động và xã hội, như: Hợp đồng lao động, phân biệt đối xử, tuổi nghỉ hưu, tiền lương và thời giờ làm việc.

Một vấn đề khác cũng không kém phần quan trọng là câu hỏi căn bản là về phạm vi áp dụng của Bộ Luật Lao động – liệu Bộ luật chỉ áp dụng cho người lao động và người sử dụng lao động ở khu vực kinh tế chính thức, chỉ ở những người lao động có hợp đồng lao động hay rộng hơn? Việt Nam hiện có một lực lượng lao động hơn 53 triệu người, trong đó 29 triệu người làm các công việc tự làm hoặc là lao động gia đình không được trả lương, phần lớn thuộc nền kinh tế phi chính thức, và 23 triệu người là lao động làm công ăn lương. Vậy bao nhiêu trong số họ sẽ nằm trong phạm vi điều chỉnh của Bộ luật Lao động? Đây có lẽ là câu hỏi đầu tiên cần được trả lời.

Trong bối cảnh đó, tôi muốn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tham gia đầy đủ của Công đoàn, đại diện doanh nghiệp và các bên liên quan khác trong suốt quá trình sửa đổi Bộ Luật Lao động.

Việc đổi mới pháp luật lao động có thành công hay không phụ thuộc vào cách thức tiếp thu một cách cân bằng giữa nhu cầu được bảo vệ tốt hơn của người lao động và nhu cầu về tính linh hoạt của doanh nghiệp. Cân bằng những nhu cầu của người lao động và người sử dụng lao động là khả thi chỉ khi đại diện của họ tham gia vào quá trình này.

Xin cảm ơn ông.

LN (thực hiện)

Nguồn :