Sức sống mãnh liệt của nón làng Chuông
| Hoài niệm xem phim rạp | |
| Tiếng rao đổi hàng ở Hà Nội |
Cách trung tâm Hà Nội chừng 30km, làng Chuông (xã Phương Trung, huyện Thanh Oai, Hà Nội) nổi tiếng với nghề làm nón hàng trăm năm qua. Xưa kia, làng Chuông sản xuất nhiều loại nón, dùng cho nhiều tầng lớp như nón ba tầm cho các cô gái; nón nhô, nón long, nón dấu, nón chóp cho các chàng trai và những người đàn ông sang trọng. Nhưng từ năm 1940 đến nay, những người thợ làng Chuông chỉ còn làm duy nhất một loại nón.
![]() |
| Nón làng Chuông nổi tiếng khắp trong và ngoài nước. |
Theo người dân ở đây, vật dụng làm nón gồm lá, chỉ và khung nón. Lá là chất liệu quan trọng làm nên chiếc nón được lấy từ hai loại cây giống như cây cọ, mọc ở những vùng đồi núi. Với loại lá non còn búp, chưa xòe ra hẳn, người ta cắt về phơi khô 2 - 3 nắng, rồi đem ủi phẳng. Phải dùng khăn nhúng nước, hơ trên lửa cho nóng trước khi chà nhẹ lên lá cho thẳng. Các vòng tròn nhỏ dần đến chóp nón tạo ra khung nón.
Thường mỗi mối buộc được dùng guột hoặc mây bện lại rất chắc chắn và đẹp mắt. Công đoạn làm khung nón được cho là khó nhất bởi nó quyết định đến độ tròn và sự bền chắc của một chiếc nón. Nón làng Chuông trông đơn giản, nhưng đòi hỏi rất công phu, tỉ mỉ khi làm. Khung nón làm bằng tre ngâm kỹ vừa dẻo dai lại rắn chắc, gồm 16 vành. Ðây được coi là công thức bắt buộc đã chọn lọc phù hợp với thực tế thông qua bao đời người thợ làm nón Chuông.
Nón làng Chuông giờ đã nổi tiếng khắp trong và ngoài nước. Ngôi làng nhỏ luôn tấp nập khách ra vào. Khách đến làng không chỉ để đặt hàng mà còn muốn tham quan, tận mắt chứng kiến việc làm nón. Thế nhưng, điều lạ là không biết rõ ai là ông tổ của nghề nón, chỉ nghe tổ tiên kể lại chiếc nón ra đời và gắn bó với mảnh đất Chuông giàu văn hóa từ thuở nào. Những chiếc nón trắng đặc trưng của làng từ thời phong kiến đã từng được tiến cung dâng hoàng hậu, công chúa trong cung cấm.
| “Nón làng Chuông đã có thời gian dài liêu xiêu, người dân bỏ nghề ra trung tâm Thủ đô kiếm sống. Nhưng, với cách làm mới, mở rộng thị trường, giữ gìn nét đẹp áó dài gắn liền với nón lá của người phụ nữ Việt Nam, người làng Chuông đã vượt qua khó khăn và phát triển” - đại diện một doanh nghiệp nón làng Chuông cho biết. |
Theo lịch sử ghi lại, ông Hai Cát là người có công mang nón Xuân Kiều (còn gọi là nón Ba Đồn) về làng sản xuất thay cho các loại nón cổ. Năm 1930, ở hội chợ Đấu Xảo - Hà Đông, nón của ông Hai Cát đã được đánh giá rất cao và chính quyền sở tại đã cấp giấy hành nghề, được Hiệp hội Hàng nón chứng nhận chất lượng cao hơn nón Huế, ông đã trở về bản quán với nghề làm nón mới cùng với 6 cái giấy phép dạy nghề làm nón xuyên suốt từ Hà Đông, Hà Nội, Hải Dương, Hải Phòng.
Chợ nón làng Chuông họp theo phiên, vào các ngày 4, 10, 14, 20, 24 và 30 âm lịch hằng tháng. Có 6 phiên một tháng và 72 phiên chợ trong một năm. Thời hoàng kim, cả làng lúc nào cũng sáng đèn, như một công trường thu nhỏ. Nhưng, nón làng Chuông cũng có những giai đoạn vô cùng khó khăn, bởi mũ thời trang phát triển rầm rộ, rồi thì mọi người đi xe gắn máy đều buộc phải đội mũ bảo hiểm, nên sức tiêu thụ nón lá giảm mạnh. Dù vậy, nhưng người làng Chuông vẫn quyết tâm vượt qua cơn “khủng hoảng” đó để giữ nghề mà cha ông đã lưu truyền hàng trăm năm nay.
Nón làng Chuông ngoài việc tham gia vào nhiều sự kiện như SEA Game 22, APEC 2006 và nhiều hội chợ quốc tế, người dân đã nhanh chóng chuyển đổi thói quen sản xuất truyền thống nhỏ lẻ sang hướng liên kết, chuyên môn hóa, hình thành bộ phận chuyên cung cấp nguyên vật liệu và bộ phận gom hàng giải quyết đầu ra. Nón làng Chuông đã xuất khẩu sang Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Singapore. Việc quảng bá du lịch đã lan tỏa đi nhiều nước, nên xã đã thu hút được nhiều khách du lịch nước ngoài đến tham quan.
Hiện xã Phương Trung có khoảng 3.000 hộ (chiếm 95%) làm nón, mỗi ngày sản xuất trên 2.000 chiếc. Các cụ từ 80 đến 90 tuổi ở Phương Trung vẫn tham gia làm nón, có cụ khâu được 2 chiếc/ngày, tiền lãi được khoảng 50.000 đồng. Làng cũng đã xuất hiện những doanh nghiệp trẻ sản xuất và kinh doanh nón mạnh dạn, tiên phong và làm giàu từ nón.
Lê Mai
Có thể bạn quan tâm
Nên xem
Kinh tế và văn hóa - cặp trụ cột chiến lược định hình con đường phát triển bền vững của Hà Nội
Hà Nội tiên phong đưa Nghị quyết của Đảng vào cuộc sống: Chuyển từ tư duy đến hành động thực chất
Văn hóa trở thành nền tảng vững chắc và trụ cột của phát triển đất nước
Hà Nội kiến tạo động lực phát triển mới: Đổi mới tư duy và cân bằng giá trị phát triển
Hà Nội chủ động, gương mẫu đưa Nghị quyết 79, 80 vào cuộc sống
Phường Tây Hồ gặp mặt ứng cử viên đại biểu HĐND, nhiệm kỳ 2026-2031
Phát huy sức mạnh kinh tế - văn hóa để kiến tạo Thủ đô bền vững
Tin khác
Kinh tế và văn hóa - cặp trụ cột chiến lược định hình con đường phát triển bền vững của Hà Nội
Nhịp sống Thủ đô 28/02/2026 08:38
Phát huy sức mạnh kinh tế - văn hóa để kiến tạo Thủ đô bền vững
Nhịp sống Thủ đô 27/02/2026 22:13
Hà Nội kiến tạo tương lai bền vững từ nền tảng kinh tế và văn hóa
Nhịp sống Thủ đô 27/02/2026 20:10
Từ kinh nghiệm các thành phố thông minh châu Á, gợi mở lối đi cho đô thị Hà Nội
Nhịp sống Thủ đô 27/02/2026 13:46
Phường Tây Hồ: Gặp mặt, động viên công dân lên đường nhập ngũ
Nhịp sống Thủ đô 26/02/2026 20:35
Hà Nội xây dựng hệ sinh thái an ninh trật tự số từ đột phá công nghệ
Nhịp sống Thủ đô 26/02/2026 18:33
Hà Nội chính thức ra mắt Trung tâm đổi mới sáng tạo
Nhịp sống Thủ đô 26/02/2026 18:04
Công nghệ - năng lực cạnh tranh mới của điểm đến
Nhịp sống Thủ đô 25/02/2026 20:53
Trung tâm Đổi mới sáng tạo Hà Nội: Hạt nhân kết nối nguồn lực khoa học, công nghệ
Nhịp sống Thủ đô 25/02/2026 20:44
Để Hà Nội vươn mình trong kỷ nguyên số cần một “bộ não” điều phối đổi mới, sáng tạo
Nhịp sống Thủ đô 25/02/2026 14:38
