M
16:50 | 18/01/2019

Ai về hội Gióng thì về

(LĐTĐ) Hội Gióng cũng như trăm ngàn lễ hội dân gian của người Việt đều có chung hai phần cấu thành. Đó là phần Lễ và phần Hội. Có điều, Hội Gióng mở ra vào đầu hạ chứ không vào mùa xuân như lẽ thường thấy ở các lễ hội. Đây chính là nét khác biệt.

ai ve hoi giong thi ve “Phi Ải Lao bất thành Hội Gióng”
ai ve hoi giong thi ve Trẩy hội mùa xuân

Điều khác biệt này phải chăng nó nằm ở thời điểm mà trong tương truyền có người đàn bà làng Phù Đổng, một buổi ra đồng sớm đã vô tình dẫm phải “vết chân nhà Trời”. Người đàn bà ấy sau đó mang thai và sinh ra một cậu bé đã lên ba tuổi mà vẫn chưa biết nói cười, chưa biết đi đứng. Cậu bé ấy đột nhiên cao lớn và đột nhiên cất lên tiếng nói rành rẽ khi sứ giả của nhà Vua đi ngang qua làng.

Sứ giả cho hay giặc Ân hung dữ từ phương Bắc đang lăm le tràn xuống xâm lược nước ta. Nhà Vua kêu gọi ai có tài có đức ra dẹp giặc giúp nước. Chuyện cậu bé vụt lớn khác thường có phải chăng ý thức về “đánh giặc giữ nước” là “liều thuốc thần tiên” giúp cậu bé tưởng chừng bỏ đi ấy biến mình thành một người khác, một người có ích. Phải chăng đó cũng là phẩm hạnh của người dân nước Việt mỗi khi nước nhà có biến.

ai ve hoi giong thi ve

Nhằm biểu đạt những ý tưởng và triết lý dân gian, sân khấu hóa lễ hội là một đặc điểm dường như riêng có của Hội Gióng. Nó nhằm nhắc lại về câu chuyện huyền thoại cổ xưa và để giúp Hội thêm trang nghiêm, vui vẻ, thu hút. Sân khấu hóa lễ hội với hình thức diễn xướng liên tục thông qua màn liên khúc múa đã được tổ chức chặt chẽ, chu đáo và bài bản do một dàn vai diễn hết sức phong phú và có nghề đảm nhiệm.

Phải nói rằng: Liên khúc múa trong Hội Gióng chính là “linh hồn” tạo nên sức sống cho một lễ hội tín ngưỡng. Liên khúc múa trong Hội Gióng đã làm gần như thay đổi nếp nghĩ, nếp làm và nếp ăn của người dân trong vùng nói riêng, người dân Việt nói chung. Đó cũng là ý nghĩ cao rộng nói lên: Dù trong hoàn cảnh nào thì “yêu nước và đánh giặc” vẫn được đề cao, được nhắc nhở.

Màn múa đầu tiên mở đầu cho liên khúc múa là màn múa có tên là “Ông Hiệu Cờ”. Vai diễn này được xem là vai tượng trưng cho Thánh Gióng. Cầm trên tay lá cờ Lệnh có cán cờ dài và nặng (vai diễn này đòi hỏi sức khỏe nên được giao cho một thanh niên đảm nhiệm). Với động tác múa mạnh mẽ, dứt khoát “Ông Hiệu Cờ” thông qua động tác của mình nhằm biểu đạt quan điểm cơ bản của việc luyện quân cùng phương pháp đánh trận. Động tác làm đủ 3 ván cờ “Múa cờ Thuận và múa cờ nghịch” của Ông Hiệu Cờ như muốn khẳng định “Quân lệnh phải nghiêm minh.

Binh pháp phải mưu lược sáng tạo”. Phụ múa cho màn múa Ông Hiệu Cờ sẽ gồm 120 trai đinh, họ cởi trần đóng khố, đầu đội mũ có hình quả dưa, trên mũ có đính 9 con rồng nhỏ nhằm tượng trưng cho Đất. Còn vai của 120 trai đinh này lại đeo túi có hình nửa vầng trăng, tượng trưng cho Trời. Dàn vai diễn này được gọi là “Phù Giá”, có nghĩa muốn thể hiện sức mạnh vô địch khi người chiến binh được thấm nhuần hào khí thiêng của Đất Trời quê hương. Ý sâu xa nhắc đến câu chuyện chàng trai làng Gióng cầm roi sắt cưỡi ngựa sắt đi đánh giặc. Roi sắt gẫy chàng trai bèn nhổ tre đằng ngà đánh kỳ tan lũ giặc.

Hội Gióng chính là một “Kịch trường dân gian” với đầy đủ ý nghĩa của nó. Hàng trăm diễn viên đảm nhiệm hàng trăm vai diễn đã trình diễn liên hoàn, móc nối với nhau và vai diễn này tôn vinh vai diễn kia. Với các màn múa chính đều được gọi chung cái tên là các “Ông Hiệu” đã cho thấy tính thống nhất của một “vở kịch” được xây dựng kỹ lưỡng. Nói một cách khác thì “hệ thống các ông Hiệu” này chính là “hệ thống các tướng lĩnh” của Thánh Gióng. Màn múa các ông Hiệu đều được trình diễn theo một trình tự đầu cuối rõ ràng đã cho thấy dù có “tính ước lệ của sân khấu” nhưng ở “kịch trường dân gian” này vẫn đề cao tính thống nhất và nghiêm cẩn của việc luyện quân và ra trận.

Trong khi vai diễn các ông “Hiệu” thể hiện vị trí của mình thông qua các điệu múa thì bên cạnh đó có sự xuất hiện đồng thời vai diễn của những “Quạt Hầu”. Vai diễn “Quạt Hầu” nếu xét về khía cạnh “sân khấu” thì cho thấy vai diễn này không mang tính chất “hầu” như danh xưng đã gọi. Những “Quạt Hầu” ở đây không hề là những người làm công việc hầu hạ quạt mát mà đâu đó gợi lên hình ảnh của sự “đồng tâm, đồng lòng” của mọi người dân từ già tới trẻ trong công cuộc đánh giặc. Vai diễn “Quạt Hầu” còn đem đến cho liên khúc múa một hình ảnh hết sức sinh động bởi vẻ ngây thơ, trong sáng nhưng cũng hết sức chu đáo, coi trọng công việc đang làm. Vai diễn “Quạt Hầu” do các em trai tuổi chừng 7 hoặc 8 đảm nhiệm xuất hiện trong liên khúc múa làm người xem hội thấy thích thú và đáng khen ngợi.

…Nét đáng chú ý trong màn liên khúc múa có trong Hội Gióng còn ở chỗ đạo cụ, y phục và diễn viên. Ở mỗi một vai diễn và ở mỗi một màn múa đều có đạo cụ và y phục thích ứng. Điều này cho thấy không có gì đáng nghi ngờ khi phần hội trong Hội Gióng đích thực là một “Kịch trường dân gian”. Đạo cụ, y phục được chuẩn bị chu đáo, thống nhất còn khẳng định màn liên khúc múa trong Hội Gióng thực sự là một Liên khúc múa có hồn. Những nghệ sĩ dân gian đã thổi hồn cho lễ hội tín ngưỡng thêm sức sống như chính đời sống thật vậy.

Cùng với các vai diễn và màn múa chính, các vai diễn khác cùng các màn múa khác (điệu múa) trong Hội Gióng như: Rước nước để tôi luyện binh khí, rước Đống Đàm để đi đàm phán kêu gọi hòa bình, rước khám đường để đi trinh sát quân giặc và rước trận soi bia để mô phỏng trận đánh giặc Ân… các màn múa “Rước” đó đã phần nào nói lên một cách thức ứng xử trong chiến trận. Một cách thức luôn lấy hòa giải và đầy tính nhân văn để giải quyết chiến tranh, cách thức đó bắt chúng ta phải suy ngẫm về đạo lý của người xưa.

Hai ngày Hội Gióng qua nhanh. Dư âm về màn múa hát về chào mừng chiến thắng chống giặc ngoại xâm dường như mãi còn không dứt. Tiếng trống tiếng chiêng. Tiếng cười hể hả cứ réo rắt một vùng bên sông Đuống. Liên khúc múa trong Hội Gióng như khẳng định thêm: Sức mạnh nội lực của dân tộc Việt tràn đầy và bất tận.

Nguyễn Trọng văn

Nguồn :