M
10:06 | 22/08/2017

Nhà viết kịch Thanh Hương:

Ngôi sao sáng của nền sân khấu cách mạng Việt Nam

Mới đây, tại Hà Nội, Hội Nhà văn Việt Nam phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn và Phát huy văn hóa dân tộc tổ chức Hội thảo “Nhà văn, nhà viết kịch Thanh Hương, cuộc đời và sự nghiệp”. Đây là một sự kiện có ý nghĩa quan trọng, nhìn lại những giá trị, đóng góp suất sắc của nhà viết kịch Thanh Hương trong hoạt động nghệ thuật nước nhà.

ngoi sao sang cua nen san khau cach mang viet nam Công diễn vở kịch “Đứa con tội phạm”
ngoi sao sang cua nen san khau cach mang viet nam Hội Nhà văn Nga tặng TP.Hà Nội tượng Đại thi hào A.S.Pushkin

Từ cung đường khói lửa

Nhà viết kịch Thanh Hương tên thật là Đặng Thị Xuân, sinh năm 1939 tại làng Đông Phái, xã Diễn Hoa, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Bà nguyên là Đại biểu Quốc hội Việt Nam Khóa IX (1992-1997) và Khóa X (1997-2002), Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh thiếu niên Nhi đồng, nguyên Ủy viên Ban thư ký Hội nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam… Trong cuộc đời cầm bút, nhà viết kịch Thanh Hương đã cho ra đời 27 kịch bản, trong đó 6 kịch bản đã in thành sách và 3 công trình sách khác. Những tác phẩm nổi tiếng của bà như “Ngôi sao ban ngày” (1972), “Thung lũng tình yêu” (1980), “Vàng” (1985), “Đỉnh cao và vực thẳm” (1991), “Bài ca người mẹ” (1995), “Đời người giấc mộng” (1996)…

Với những đóng góp to lớn cho ngành sân khấu nước nhà, bà đã được Chủ tịch Nước trao tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2007. Để có được những kịch bản như vậy, nhà viết kịch Thanh Hương đều lấy mẫu nhân vật từ những chuyến đi thực tế ở cở sở trong đời sống xã hội để tái hiện thành hình tượng sân khấu. Từ hậu phương đến chiến trường khốc liệt Quảng Trị, đường mòn Hồ Chí Minh, những sự kiện được bà phản ánh là người thực, việc thực, cuộc sống thực nên có sức truyền cảm của kịch bản đến vở diễn.

Nói về những chuyến đi thực tế, nhà viết kịch Thanh Hương kể: “Tôi đã sống bên những cô gái Hà Nội trên đường Trường Sơn, đã tâm tình trò chuyện, kể cả ngủ chung hầm với họ. Họ lúc phải ăn đói, mặc rách, thiếu từ sợi chỉ cây kim đến quả bồ kết gội đầu. Hàng ngày công việc “đánh địch mà đi, mở đường mà tiến” của họ đã giúp tôi vượt qua nỗi sợ rừng, sợ đêm tối, sợ bom đạn Mỹ, sợ cả con vắt bám vào tay … để hoàn thành một chuyến đi thắng lợi”. Không may sau này, căn hầm đó đã bị bom cào bằng và 4 cô gái làm đường hôm nào đều đã hy sinh. Ký ức đó đã giúp nhà viết kịch Thanh Hương xúc động viết vở “Ngôi sao ban ngày”, trong đó có vai Na là nhân vật bà yêu quý nhất, nhân vật thật của cung đường khốc liệt này.

ngoi sao sang cua nen san khau cach mang viet nam
Nhà thơ Hữu Thỉnh – Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam tặng hoa cho nhà viết kịch Thanh Hương. Ảnh: Phương Bùi

Đến công trường rộn tiếng ca

Khi đất nước giải phóng, nữ sĩ Thanh Hương lại lao đi thực tế để sống cùng công nhân xây dựng ở thủy điện Sông Đà, thâm nhập sâu trong vùng mỏ Quảng Ninh... Từ thực tế nóng bỏng ấy, nữ văn sĩ Thanh Hương đã viết ra những tác phẩm chân thực, sinh động. Tiêu biểu trong những tác phẩm hiện thực ấy là vở “Thung lũng tình yêu” được bà viết từ thực tế ở công trường thủy điện Sông Đà. Vở kịch như một bản anh hùng ca và tình ca của người lao động trên công trường sắt đá. Họ đã xây dựng nên tình bạn, tình yêu thật cao đẹp như mối tình giữa Sơn và Kim Thư – hai trí thức trẻ hay giữa hai công nhân trẻ là Đấu và Cẩm Vân; giữa chị Nhân và bác Đông, lớp công nhân đã có tuổi… Ngoài ra, còn có tình bạn, tình đồng chí tha thiết, đậm đà giữa chuyên gia Liên Xô A-lếch-xây hay Mi-kha-in người Đức với công nhân và cán bộ kỹ thuật Việt Nam. Vở “Thung lũng tình yêu” sau đó đã diễn liên tục ở rạp Công nhân Hà Nội lúc nào người xem cũng chật cứng, đa số là khán giả trẻ.

Tổng Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn và Phát huy văn hóa dân tộc Hoàng Chương nhận định, dù kịch Thanh Hương viết cách đây 30 năm, nhưng giá trị hiện thực vẫn còn tính thời sự, bởi tính tư tưởng của kịch Thanh Hương vẫn thống nhất với tư tưởng của Đảng trong xây dựng con người mới và chống quan liêu, tham nhũng. Đó là những tác phẩm sân khấu không những mang tính thời sự mà còn sống mãi với thời gian. Bên cạnh chuyên môn giỏi, NSND Lê Tiến Thọ - Chủ tịch Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam nhận xét, bà còn là người vợ, người mẹ hết lòng vì gia đình. Chồng mất sớm, lúc bà chỉ mới 30 tuổi, một mình nuôi 2 đứa con, nhưng năm 1972, giữa những ngày chiến tranh ác liệt nhất, bà đã xung phong ra chiến trường để viết về cuộc chiến đấu lớn lao của dân tộc.

Trong cuốn hồi ký “Đi trong cuộc sống” của nhà viết kịch Thanh Hương do NXB Hội Nhà văn phát hành, bà từng chia sẻ: “Tôi gửi hai con Hà, Quang đi sơ tán theo cơ quan Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam. Trước lúc lên đường ra mặt trận, tôi mua gạo, mì, dầu, thịt đậu kho một nồi, tem phiếu mua thực phẩm và sổ gạo, tất cả tôi gửi chị Minh Yến – Phó văn phòng Hội. Tôi nhờ chị Yến báo cơm tập thể cho 2 cháu, hàng tháng lĩnh lương của tôi nộp cho nhà ăn… Tôi ôm hai đứa con vào lòng, hít hà mái tóc cháy nắng đỏ quạch của cháu Quang mới mười tuổi, cháu Hà mười một tuổi trông các con tôi đen đủi, gầy gò, mắt các cháu mở to, ngơ ngác nhìn tôi như muốn hỏi: “Mẹ đi xa à?...” Tôi cắn chặt môi tóe máu, nuốt nước mắt vào trong quay đi, bởi còn ôm thêm một giây nữa thì tôi bật khóc và gửi 2 con cho chị Yến, khuyên bảo con ngoan, nghe lời cô Yến dạy bảo, rồi xa con, tiến thẳng vào phía Nam…”

Phương Bùi

Nguồn :