Giáo dục sau trung học ở Việt Nam nên thế nào ?

Trong bài viết gửi tới VietNamNet, TS Hoàng Ngọc Vinh cho rằng, ở nước ta, vấn đề cần tháo gỡ lớn nhất là giáo dục sau THCS để thực hiện phân luồng theo các hướng giáo dục khác nhau và giáo dục sau trung học
Giáo dục sau trung học ở Việt Nam nên thế nào ? Sổ liên lạc điện tử: Hiệu trưởng một cổ mấy tròng ?
Giáo dục sau trung học ở Việt Nam nên thế nào ? Thi ghép tốt nghiệp và đại học, chuẩn bị tinh thần hay kiến thức cho sỹ tử ?
Giáo dục sau trung học ở Việt Nam nên thế nào ? Trường chuyên ở Mỹ tuyển sinh như thế nào ?
Giáo dục sau trung học ở Việt Nam nên thế nào ? Hai bộ Giáo dục và Lao động nói gì về giáo dục nghề nghiệp

Hệ thống giáo dục đáng chịu những tác động rất lớn bởi những tiến bộ về khoa học công nghệ, đặc biệt công nghệ thông tin và truyền thông, tòan cầu hóa, mô hình tổ chức và quản lý sản xuất, môi trường, dịch bệnh và bối cảnh chính trị thế giới.

Những thay đổi trong lĩnh vực IT, công nghệ điện tử, sinh học, vật liệu mới diễn ra hết sức nhanh chóng với tốc độ 1 năm bằng cả hàng chục năm trước đây đã dẫn đến những thay đổi nhanh chóng về yêu cầu kiến thức kỹ năng của người lao động tại nơi làm việc. Có người ví ngành giáo dục luôn phải nhắm đến mục tiêu di động của giáo dục.

Toàn cầu hóa tạo ra những cơ hội nhất định cho các quốc gia song đòi hỏi ở mỗi quốc gia những nỗ lực cạnh tranh rất lớn về năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và chí phí. Đổi mới công nghệ sẽ diễn ra thường xuyên liên tục đối với các doanh nghiệp nếu doanh nghiệp không muốn bị đứng ra ngoài lề của cuộc tranh đua này. Đổi mới công nghệ đòi hỏi người lao động phải có năng lực thích nghi, dễ đào tạo (trainable), dễ chuyển đổi kỹ năng và những tri thức cơ bản (3R’), năng lực tư duy, thái độ mà doanh nghiệp đòi hỏi.

giáo dục, Việt Nam, trung học, đại học
Ảnh minh họa

ứng trước thực tế đó, mô hình đào tạo người lao động trong các quốc gia phát triển và các quốc gia đang phát triển cần phải thay đổi. Việc đào tạo rộng với những tri thức, kỹ năng cơ bản, cốt lõi được nhấn mạnh. Nói cách khác người lao động cần có một học vấn phổ thông tốt trước khi học một nghề trong những lĩnh vực sản xuất và dịch vụ sử dụng high-tech (State of the Arts).

Xu hướng từ các quốc gia phương Tây

4 động lực chính để phát triển giáo dục sau trung học.

Những thay đổi từ thị trường lao động: Thị trường lao động trong những những năm 1970 cho thấy nhu cầu ngày một tăng lên đối với kỹ thuật viên và nhân viên nghiệp vụ có trình độ trung cấp (midle-level) để nắm giữ các vị trí quản lý trung gian trong những lĩnh vực kinh tế truyền thống như nông nghiệp, xây dựng, chế tạo và thương mại, đặc biệt sự gia tăng nhanh chóng lĩnh vực kinh tế dịch vụ như du lịch, nhà hàng, ngân hàng và tài chính, giao thông công cộng, chăm sóc sức khỏe...

Theo một dự báo nhu cầu nhân lực có trình độ kỹ năng ở Hoa Kỳ, có đến 80% việc làm gia tăng nhanh nhất từ năm 2000 đến năm 2010 đòi hỏi người lao động có trình độ giáo dục sau trung học và xu hướng này tiếp tục tăng nhanh. Đến năm 2010 sẽ có hơn 42% việc làm trong nền kinh tế đòi hỏi một chứng chỉ nghề sau trung học, bằng CĐ, cử nhân hoặc cao hơn thì đến năm 2020 con số này theo dự báo lên đến 65%.

Điều đáng chú ý là có trên 65% nghề có tốc độ phát triển cao nhất ở Hoa Kỳ đòi hỏi người lao động được đào tạo ở trình độ sau trung học (bằng CĐ, chứng chỉ nghề, bằng cử nhân).

Do tác động của tiến bộ công nghệ, phân bố trình độ nhân lực theo một phổ từ lao động có kỹ năng ở mức thấp nhất công nhân - kỹ thuật viên – công nghệ viên - kỹ sư – nhà khoa học.

Những tác động xã hội: Sự phát triển giáo dục sau trung học còn chịu sức ép từ xã hội. Giáo dục sau trung học được xem như việc tạo thêm cơ hội GDĐH cho học sinh tốt nghiệp trung học (THPT và trung học kỹ thuật, trung học nghề).

Các chương trình giáo dục sau trung học không chỉ đáp ứng nhu cầu từ thị trường lao động mà còn đáp ứng nhu cầu của thanh niên tốt nghiệp trung học. Chương trình cung cấp một sự lựa chọn cho những đối tượng hoặc không muốn vào ĐH hoặc không thích hợp học những chương trình mang nặng tính hàn lâm. Những đối tượng theo học chương trình này thường mất từ 2 đến 3 năm để có một trình độ chuyên nghiệp. Sự phát triển mạnh mẽ các cơ sở giáo dục dành cho những đối tượng trên cho thấy các chương trình giáo dục được đánh giá cao từ phía người sử dụng lao động và sinh viên.

Sức ép về kinh tế và tài chính: Những nhà quản lý giáo dục phương Tây lo ngại về thời gian GDĐH quá dài và tỷ lệ sinh viên bỏ học ĐH cao. Người ta cho rằng giáo dục nghề sau trung học được xem có hiệu quả cao từ logic của thị trường lao động và là sự lựa chọn hiệu quả đối với giáo dục cho một tỷ lệ lớn thanh niên.

Sự phát triển chương trình giáo dục nghề sau trung học: các cơ sở giáo dục nghề sau trung học đã thu thược những thành công trong việc đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời của cả người sử dụng lao động và của cả xã hội nói chung trên bình diện cung cấp các chương trình đào tạo cho người thất nghiệp và cả những người lao động cơ hội để được đào tạo lại hoặc để nâng cao trình độ. Những chương trình này mau chóng được sự chấp nhận của xã hội.

Cần có nhìn nhận mới

Từ những phân tích trên có thể rút ra: Giáo dục sau trung học là xu hướng phổ biến ở nhiều quốc gia nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường lao động dưới tác động của tiến bộ công nghệ, thay đổi mô hình quản lý sản xuất, dịch vụ và dưới sức ép xã hội khi một bộ phận lớn thanh niên học xong THPT không thể vào học trong các trường đại học mang truyền thống nghiên cứu.

Chất lượng giáo dục phổ thông rất quan trọng - là nền tảng và tiền đề để đào tạo ra người lao động có năng lực sống và làm việc trong môi trường thay đổi.

Hầu hết các chương trình sau trung học chỉ cần học trong vòng 2 năm đối với hệ giáo dục phổ thông kéo dài đến 12 năm.

Đại chúng hoá giáo dục đại học với sự góp phần của các cơ sở giáo dục sau trung học là xu hướng tất yếu với hàm lượng nghề gia tăng trong các chương trình. Đại chúng hoá giáo dục đại học không đồng nghĩa với “university” hoá như một số người hay nói đến “thừa thấy thiếu thợ”.

Cần có nhìn nhận mới về đào tạo đại học và sau đại học đối với những lĩnh vực mang tính chuyên nghiệp (professional). Khi hàm lượng “nghề” gia tăng đồng nghĩa với việc thay đổi về phương pháp dạy, tổ chức dạy học đại học, công nhận trình độ và sự gắn kết mạnh hơn với doanh nghiệp.

Giảng viên trong các trường cao đẳng hay đại học theo hướng nghề nghiệp hoặc khoa học ứng dụng cần có nhiều kinh nghiệm từ thực tế sản xuất và năng lực thực hành cao.

Mô hình đào tạo sau trung học khá đa dạng về chương trình và cơ sở đào tạo nhưng có một điểm chung là gắn chặt với tiêu chuẩn năng lực nghề nghiệp đầu ra và tiêu chuẩn này được xác định không phải chỉ bởi nhà trường mà bởi cả thế giới việc làm (đại diện doanh nghiệp, ngành kinh tế, công đoàn, giới chủ).

Giáo dục sau trung học nên như thế nào?

Tiếp tục mở rộng quy mô đào tạo sau trung học (chú trọng các ngành kỹ thuật công nghệ) trên cơ sở đảm bảo chất lượng và củng cố vững chắc nền tảng giáo dục phổ thông.

Tái cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân để nâng cao hiệu quả kinh tế trong đào tạo và hội nhập (di chuyển lao động, công nhận văn bằng). Đồng thời, cần có nghiên cứu và đánh giá so sánh tiêu chuẩn năng lực nghề nghiệp của sinh viên tốt nghiệp các trường CĐ 3 năm với tiêu chuẩn năng lực nghề nghiệp của học sinh tốt nghiệp các trường trung cấp chuyên nghiệp hệ 2 năm và mức độ gắn kết với thị trường lao động của chương trình đào tạo.

Cần đánh giá khách quan các trường trung cấp chuyên nghiệp hiện nay thành cơ sở giáo dục sau trung học với thời gian đào tạo 2 năm và nghiên cứu rút gọn chương trình đào tạo cao đẳng xuống còn 2 năm trong hầu hết các ngành đào tạo (có thể trừ các ngành sư phạm, y tế, nghệ thuật...). Cách này có thể giúp nhanh chóng tăng tỷ lệ lao động được đào tạo ở Việt Nam và nâng cao hiệu quả của hệ thống.

Nhanh chóng xây dựng, ban hành và thực hiện khung các trình độ quốc gia làm cơ sở cho công tác dự báo, quy hoạch đào tạo nhân lực và thúc đẩy hội nhập khu vực và quốc tế. Rất cần phát triển mạnh các trường cao đẳng cộng đồng trên cơ sở quy hoạch lại các cơ sở GDNN ở địa phương để tập trung nguồn lực và trí tuệ phát triển kinh tế địa phương.

TS. Hoàng Ngọc Vinh(Hà Nội)

vietnamnet.vn

Có thể bạn quan tâm

Nên xem

Kinh tế và văn hóa - cặp trụ cột chiến lược định hình con đường phát triển bền vững của Hà Nội

Kinh tế và văn hóa - cặp trụ cột chiến lược định hình con đường phát triển bền vững của Hà Nội

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng và nâng cao vị thế quốc gia, việc Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 79-NQ/TƯ về phát triển kinh tế nhà nước và Nghị quyết số 80-NQ/TƯ về phát triển văn hóa Việt Nam đánh dấu một bước hoàn thiện quan trọng trong tư duy chiến lược của Đảng.
Hà Nội tiên phong đưa Nghị quyết của Đảng vào cuộc sống: Chuyển từ tư duy đến hành động thực chất

Hà Nội tiên phong đưa Nghị quyết của Đảng vào cuộc sống: Chuyển từ tư duy đến hành động thực chất

Thực hiện chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm, Hà Nội đang cho thấy một tinh thần quyết liệt trong việc cụ thể hóa các Nghị quyết của Đảng thành chương trình hành động thực chất. Phương châm “nói đi đôi với làm”, lấy hiệu quả đo đếm được làm thước đo đang trở thành kim chỉ nam để Thủ đô bứt phá trong kỷ nguyên mới.
Văn hóa trở thành nền tảng vững chắc và trụ cột của phát triển đất nước

Văn hóa trở thành nền tảng vững chắc và trụ cột của phát triển đất nước

Tối 27/2, Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội thực hiện chương trình Thời sự trực tiếp đặc biệt với chủ đề "Hà Nội tiên phong, gương mẫu thực hiện các nghị quyết chiến lược của Trung ương", trong đó có Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam. Đây được xem là bước ngoặt quan trọng trong tư duy về vai trò của văn hóa, từ "nền tảng tinh thần" sang "nền tảng vững chắc" cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước.
Hà Nội kiến tạo động lực phát triển mới: Đổi mới tư duy và cân bằng giá trị phát triển

Hà Nội kiến tạo động lực phát triển mới: Đổi mới tư duy và cân bằng giá trị phát triển

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, Thủ đô không chỉ là trung tâm hành chính chính trị kinh tế mà còn giữ vai trò tiên phong kiến tạo tư duy phát triển bền vững. Hà Nội đang chủ động chuyển mình, cân bằng giữa sức mạnh kinh tế và sức mạnh văn hóa để nâng tầm năng lực dẫn dắt phát triển cả nước.
Hà Nội chủ động, gương mẫu đưa Nghị quyết 79, 80 vào cuộc sống

Hà Nội chủ động, gương mẫu đưa Nghị quyết 79, 80 vào cuộc sống

PGS.TS Trần Đình Thiên cho biết, ông đặt nhiều kỳ vọng vào sự phát triển của Hà Nội, xuất phát từ nguồn lực, năng lực và sứ mệnh đặc biệt của Thủ đô. Theo ông, người dân cả nước đều kỳ vọng Hà Nội sẽ có bước phát triển mạnh mẽ hơn trong giai đoạn tới và niềm tin vào điều đó đang ngày càng được củng cố.
Phường Tây Hồ gặp mặt ứng cử viên đại biểu HĐND, nhiệm kỳ 2026-2031

Phường Tây Hồ gặp mặt ứng cử viên đại biểu HĐND, nhiệm kỳ 2026-2031

Ngày 27/2, Ủy ban Bầu cử phường Tây Hồ tổ chức Hội nghị gặp mặt các ứng cử viên nhằm quán triệt yêu cầu, định hướng nội dung và thống nhất nhận thức, trách nhiệm trong quá trình vận động bầu cử.
Phát huy sức mạnh kinh tế - văn hóa để kiến tạo Thủ đô bền vững

Phát huy sức mạnh kinh tế - văn hóa để kiến tạo Thủ đô bền vững

Trước yêu cầu của giai đoạn phát triển mới, nơi đổi mới mô hình tăng trưởng và nâng cao vị thế quốc gia trở thành đòi hỏi cấp thiết, việc ban hành Nghị quyết 79 về phát triển kinh tế nhà nước và Nghị quyết 80 về phát triển văn hóa Việt Nam đã khẳng định bước hoàn thiện quan trọng trong tư duy chiến lược của Đảng.

Tin khác

Yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của Thủ đô

Yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của Thủ đô

Sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán 2026, cùng với khí thế sản xuất sôi động tại các khu công nghiệp, khu công nghệ cao trên địa bàn Hà Nội, một nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược tiếp tục được đặt lên hàng đầu: Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là đội ngũ công nhân lao động trực tiếp sản xuất.
“Chìa khoá” giúp người lao động thích ứng với thị trường việc làm đầy biến động

“Chìa khoá” giúp người lao động thích ứng với thị trường việc làm đầy biến động

Liên tục cập nhật kiến thức về chuyển đổi số, tích lũy trải nghiệm từ những bước nhỏ và không ngừng trau dồi kỹ năng mềm được xem là những "chìa khóa" giúp người lao động thích ứng với thị trường việc làm đầy biến động năm 2026.
Năm 2026: Vẫn nan giải bài toán nhân sự

Năm 2026: Vẫn nan giải bài toán nhân sự

Tình trạng thiếu hụt lao động có kỹ năng phù hợp; chi phí nhân sự tăng cao; biến động kinh tế toàn cầu được nhận định là những yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất đến kế hoạch tuyển dụng và phát triển đội ngũ nhân sự trong năm 2026...
Siết chặt trách nhiệm xác định vị trí việc làm công chức, tránh giao khoán hình thức

Siết chặt trách nhiệm xác định vị trí việc làm công chức, tránh giao khoán hình thức

Bộ Nội vụ đề nghị các Bộ, ngành, địa phương không “khoán trắng” việc xác định vị trí việc làm cho các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc phạm vi quản lý. Việc tổ chức thực hiện phê duyệt, điều chỉnh vị trí việc làm công chức cần gắn với mục tiêu, kết quả, sản phẩm đầu ra.
Nhìn lại thị trường lao động năm qua: Thăng trầm nhưng vẫn có gam màu sáng

Nhìn lại thị trường lao động năm qua: Thăng trầm nhưng vẫn có gam màu sáng

Năm 2025 khép lại với nhiều cung bậc cảm xúc đối với thị trường lao động Việt Nam. Sau những biến động từ kinh tế toàn cầu và quá trình tái cấu trúc trong nước, bức tranh việc làm hiện lên với cả gam sáng lẫn những thách thức dài hạn. Việc làm và thu nhập được cải thiện, tỉ lệ thất nghiệp duy trì ở mức thấp; song yêu cầu về chất lượng nhân lực, kỹ năng số và khả năng thích ứng công nghệ ngày càng cao, tạo áp lực không nhỏ cho cả người lao động lẫn doanh nghiệp.
Nhiều lao động chọn ở lại thành phố làm việc xuyên Tết để tăng thu nhập

Nhiều lao động chọn ở lại thành phố làm việc xuyên Tết để tăng thu nhập

Tết là thời khắc sum vầy, đoàn tụ của nhiều gia đình, nhưng giữa dòng người tất bật rời thành phố về quê đón xuân, vẫn có không ít người lựa chọn ở lại làm việc và mưu sinh.
Hoàn thành xếp lương theo vị trí việc làm với viên chức chậm nhất 1/7/2027

Hoàn thành xếp lương theo vị trí việc làm với viên chức chậm nhất 1/7/2027

Chính phủ yêu cầu chậm nhất đến ngày 1/7/2027 phải hoàn thành việc bố trí vào vị trí việc làm và xếp lương tương ứng với vị trí việc làm đối với viên chức...
Gần 2.000 cơ hội việc làm dành cho chiến sĩ nghĩa vụ Công an Thủ đô

Gần 2.000 cơ hội việc làm dành cho chiến sĩ nghĩa vụ Công an Thủ đô

Ngày 4/2, Trung tâm Dịch vụ việc làm Hà Nội phối hợp với Ban Thanh niên, Phòng X03 - Công an thành phố Hà Nội tổ chức Phiên giao dịch việc làm chuyên đề dành cho chiến sĩ nghĩa vụ Công an Thủ đô năm 2026 nhằm cung cấp thông tin thị trường lao động, định hướng nghề nghiệp cho các chiến sĩ nghĩa vụ Công an Thủ đô sắp hoàn thành thời gian phục vụ tại ngũ trong các đơn vị thuộc Công an thành phố Hà Nội, Công an xuất ngũ, người lao động.
Thu nhập của người lao động năm 2025: Mức tăng phổ biến dưới 10%

Thu nhập của người lao động năm 2025: Mức tăng phổ biến dưới 10%

Dù đối mặt với biến động kinh tế vĩ mô, thu nhập của người lao động Việt Nam năm 2025 vẫn giữ được đà ổn định với gần 62% người được hỏi ghi nhận mức tăng lương. Đáng chú ý, để đối phó với áp lực chi phí sinh hoạt, hơn 35% người lao động đã chọn hướng phát triển "đa công việc" nhằm đa dạng hóa nguồn thu nhập.
Hà Nội: Cơ hội việc làm rộng mở cho người lao động

Hà Nội: Cơ hội việc làm rộng mở cho người lao động

Tháng 1/2026, thị trường lao động trên địa bàn thành phố Hà Nội tiếp tục duy trì xu hướng tích cực với nhu cầu tuyển dụng ở mức cao. Ước tính toàn Thành phố có khoảng 40.000 vị trí việc làm cần tuyển, tập trung ở nhiều ngành nghề như bán buôn, bán lẻ, công nghiệp chế biến chế tạo, xây dựng, dịch vụ vận tải và logistics. Đây là tín hiệu đáng mừng, cho thấy thị trường lao động Thủ đô đang phục hồi và phát triển ổn định, mở ra nhiều cơ hội việc làm cho người lao động.
Xem thêm
Phiên bản di động