M
11:39 | 16/01/2017

Màu dân tộc “sáng bừng trên giấy điệp”

Nói đến dòng tranh dân gian làm nên một phần bản sắc văn hóa Việt không thể không nhắc tới tranh Đông Hồ. Chính vì thế, thi sĩ Hoàng Cầm phải thốt lên “Tranh Đông Hồ gà lợn, nước tươi trong/Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp”.

mau dan toc sang bung tren giay diep Cùng bé sáng tạo, khám phá tranh Tết 2017
mau dan toc sang bung tren giay diep Ước vọng hồi sinh dòng tranh đỏ Kim Hoàng

Tuy nhiên, cùng với thời gian, giờ đây thú chơi tranh dân gian nói chung, tranh Đông Hồ nói riêng đang ngày một mai một. Với phương châm của Đảng, Nhà nước là phát triển phải đi liền với bảo tồn, làm thế nào bảo tồn, phát huy dòng tranh dân gian cho muôn đời sau cũng chính là nội dung mà PV trao đổi với nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế (Thuận Thành- Bắc Ninh) - người có công rất lớn trong việc phục chế và bảo tồn dòng tranh dân gian Đông Hồ cho đến ngày nay.

Theo nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế, nghề làm tranh Đông Hồ (Thuận Thành, Bắc Ninh) xuất hiện từ thời Hậu Lê đến nay khoảng 500 năm. Còn về nguồn gốc tại sao lại có tên tranh Đồng Hồ thì chữ Đông là do làng nằm về phía Đông, còn chữ Hồ là do thời đó người ta thấy quanh khu vực sống có nhiều địa danh gắn với từ Hồ (vùng hồ) như: Phố Hồ, chợ Hồ… nên người dân đã lấy tên làng là Đông Hồ.

Làng tranh Đông Hồ tuy chỉ có khoảng 200 hộ gia đình, nhưng có đến 17 dòng họ có nghề làm tranh. Mỗi một dòng họ chỉ làm một vài loại, tùy thuộc vào thế mạnh của từng gia đình. Trước đây, khi mỗi nhà làm ra một loại tranh, khách sẽ vào nhà đó mua trước và ngày hôm sau khi phiên chợ, họ mới tiếp tục mua và đóng lên thuyền mang đi bán.

mau dan toc sang bung tren giay diep
Ông Nguyễn Đăng Chế giới thiệu về một số khuôn tranh do gia đình làm và lưu giữ.

PV: So với 2 dòng tranh dân gian, tranh đỏ Kim Hoàng (Hà Tây cũ), tranh Hàng Trống (Hà Nội), thì tranh Đông Hồ có điểm khác biệt gì?

Nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế: Nét độc đáo làm nên tranh Đông Hồ là chất liệu sử dụng làm tranh của người dân nơi đây khác so với những dòng tranh còn lại. Giấy thì được làm từ cây dó, màu đỏ lấy từ hòn sỏi trên núi, màu vàng từ hoa điệp vàng, màu đen từ lá tre đốt, màu trắng được làm từ con điệp dưới biển... Trên cơ sở những màu sắc cơ bản ấy, người dân đã tạo thêm nhiều màu sắc khác nhau bằng việc trộn lẫn các màu. Để hoàn thành một sản phẩm, không kể khâu khắc tranh trên bản gỗ, có sẵn giấy và màu, người làm tranh phải rất công phu, cẩn thận trong từng công đoạn: Sơn hồ lên giấy, phơi giấy cho khô hồ, quét điệp rồi lại phơi giấy cho khô lớp điệp, lúc in tranh phải in lần lượt từng lớp màu. Nếu có 5 màu thì 5 lần in, mỗi lần in là một lần phơi. Cứ như vậy, dưới ánh sáng mặt trời, đường nét của cảnh sắc thiên nhiên, nếp sinh hoạt của người dân... như “bừng” sáng trên nền giấy điệp.

Việc dùng màu sắc sao cho phù hợp với mỗi đề tài khác nhau, nền màu đỏ cho tranh đánh ghen để lột tả được cái nóng giận bực bội, ngột ngạt của không khí lúc đó; nền màu vàng cho cảnh vui tươi tràn ngập sắc xuân trên các bức tranh ngày Tết, nền màu hồng nhạt cho tranh làng quê thanh bình, yên ả...

Về nội dung, tranh dân gian Đông Hồ phản ánh sâu sắc đời sống tinh thần, vật chất của con người, xã hội theo quan điểm mỹ học dân gian của người dân Đông Hồ. Đó là những bức tranh khắc hoạ ước mơ ngàn đời của người lao động về cuộc sống gia đình thuận hoà, ấm no, hạnh phúc, về một xã hội công bằng, tốt đẹp.

PV: Thế nhưng có thực tế, những năm qua người dân đang có vẻ “thờ ơ” với dòng tranh dân gian. Vậy với tư cách là nghệ nhân, ông có suy nghĩ gì về điều này?

-Từ thời xưa, ông cha ta đã coi việc chơi tranh ngày Tết không chỉ là một thú chơi đơn thuần mà nó còn ẩn chứa những ý nghĩa tâm lĩnh, gửi gắm thông điệp. Đó là những lời chúc cho gia chủ một năm mới làm ăn phát đạt, tài lộc, vạn sự như ý. Bên cạnh những bức tranh Tết mang sắc thái văn hóa, lịch sử.. thì nhiều người còn lựa chọn những bức vẽ từ tranh Đông Hồ hình những con giáp đại diện cho năm. Ví như, vào năm 2017, người ta sẽ chọn những bức tranh có hình gà như: Đôi trống mái - thể hiện sự quấn quýt của đôi vợ chồng son, gà mẹ cùng đàn gà con kiếm mồi - thể hiện sự no đủ…

Đúng là mấy năm qua thú chơi tranh dân gian không được nhiều người quan tâm, mà chủ yếu là kiều bào ở nước ngoài. Tuy nhiên, tín hiệu đáng mừng cũng vì lý do tâm linh cũng như sự tự tôn văn hóa dân tộc, vài năm năm lại đây, nhiều người dân đang có xu hướng quay trở lại với dòng tranh dân gian. Điển hình, không ít cơ quan, đơn vị, cá nhân đã đặt tranh Đông Hồ làm lịch tặng, làm quà biếu cho người thân của mình như một món quà Tết ý nghĩa.

mau dan toc sang bung tren giay diep
Phòng trưng bày tranh Đông Hồ của gia đình ông Chế phục vụ khách du lịch.

PV: Cùng ở Bắc Ninh nhưng quan họ Bắc Ninh, đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể từ năm 2009. Vậy nghệ nhân có thể chia sẻ về dự định của mình trong thời gian tới để nghề tranh Đông Hồ tiếp tục được UNESCO công nhận?

Điều may mắn của tôi là từ năm 2005, tôi được nghệ nhân người Pháp Jean - Pierre Pascal, do yêu thích tranh dân gian Đông Hồ ở Việt Nam, đã sưu tầm được rất nhiều tranh Đông Hồ. Năm 2014, Ông Jean - Pierre Pascal tới Việt Nam và tìm gặp tôi để trao tặng. Họ là người nước ngoài, nhưng lại yêu và sưu tầm tranh của người Việt, đủ thấy được giá trị của tranh Đông Hồ đã “vượt” ra khỏi phạm vi vốn có của nó. Vì vậy, trong những năm gần đây, người dân Việt Nam và du khách quốc tế rất yêu thích dòng tranh này.

Tại làng Đông Hồ, năm 1994, Bộ Văn hóa -Thông tin đã có quyết định công nhận chợ tranh Đông Hồ là văn hóa phi vật thể và cách đây 3 năm (2014) Bộ Văn hóa - Thể thao - Du lịch hóa cũng đã có quyết định công nhận nghề làm tranh Đông Hồ là di sản văn hóa phi vật thể. Còn việc được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể hiện là mong muốn của cả Đảng bộ, chính quyền, người dân tỉnh Bắc Ninh và người dân làng Đông Hồ.

Hiện nay, nhiều nước trên thế giới cũng đã biết đến nghề làm tranh Đông Hồ, nhưng chủ yếu vẫn qua đường du lịch và qua màn ảnh nhỏ. Còn việc đưa dòng tranh dân gian Đông Hồ trong tương lai được thế giới công nhận phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố. Bởi, một thực tế cho thấy, các nghệ nhân trong làng Đông Hồ sống với nghề tranh, giữ gìn và phát huy nó vẫn là việc tự phát, do đó cơ sở vật chất vấn còn nhiều khó khăn.

Về hướng lâu dài, cũng như tất cả ngành nghề truyền thống khác, nghề làm tranh Đông Hồ đều rất cần có sự quan tâm, đầu tư nhiều hơn nữa về mọi mặt của Nhà nước để người dân có điều kiện phục chế, bảo tồn và phát huy giá trị của dòng tranh này. Một dòng tranh được xem như một phần “hồn” văn hóa của đất nước.

Trang Thu (Thực hiện)

Nguồn :