M
15:22 | 03/07/2018

Vai trò đặc biệt quan trọng của Bộ Luật Hình sự

Kỳ 2: Đổi mới theo tinh thần cải cách tư pháp nhằm bảo vệ quyền con người

(LĐTĐ) Một trong những định hướng cơ bản sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự (BLHS) năm 1999 là tiếp tục thể chế hóa chủ trương cải cách tư pháp của Đảng theo tinh thần đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội; tôn trọng và bảo đảm thực thi các quyền con người, quyền công dân được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013.

tin nhap 20180703150734 Vai trò đặc biệt quan trọng của Bộ Luật Hình sự
tin nhap 20180703150734 Hiểu để thực hiện đúng luật
tin nhap 20180703150734 Bảo hiểm xã hội Việt Nam phổ biến Bộ Luật Hình sự năm 2015

Theo các chuyên gia về luật, định hướng này được thể hiện rõ trong các quy định của BLHS năm 2015 trên những khía cạnh chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, BLHS thể chế hóa chủ trương của Đảng về hạn chế áp dụng hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt ngoài tù.

Đây là hai nội dung có liên quan hữu cơ với nhau. Tính nhân đạo trong chính sách hình sự được thể hiện trước hết ở việc giảm nhẹ các hình phạt có tính hà khắc đối với người phạm tội, giảm bớt hình phạt tù đối với người phạm tội, theo đó, muốn giảm khả năng áp dụng các hình phạt tù, thì cần nghiên cứu điều chỉnh theo hướng hình phạt tù chủ yếu áp dụng đối với các tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng; đối với các tội phạm nghiêm trọng hoặc ít nghiêm trọng thì chỉ nên áp dụng khi xét thấy nếu để người phạm tội ở ngoài xã hội sẽ còn gây hại cho xã hội; đối với những trường hợp còn lại thì xem xét áp dụng các hình phạt không phải là tước tự do.

Theo quy định của BLHS năm 2015 thì phạt tiền là hình phạt chính được áp dụng không chỉ đối với người phạm tội ít nghiêm trọng như quy định của BLHS năm 1999 mà cả đối với trường hợp phạm các tội nghiêm trọng. Đối với nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, môi trường, trật tự công cộng, an toàn công cộng và một số tội phạm khác thì phạt tiền là hình phạt chính có thể được áp dụng đối với người phạm tội rất nghiêm trọng (Điều 35).

tin nhap 20180703150734
ảnh minh họa

Điều 36 của BLHS đã mở rộng nội hàm của hình phạt cải tạo không giam giữ theo hướng trong trường hợp người bị phạt cải tạo không giam giữ không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ với thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong một tuần. Quy định này nhằm buộc người bị kết án phải giáo dục cải tạo trong môi trường lao động thông qua những việc làm cụ thể. Tuy nhiên, Bộ luật cũng quy định biện pháp này không áp dụng đối với người già yếu, phụ nữ có thai.

Đối với hình phạt tù, Bộ luật khẳng định không áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng do vô ý và có nơi cư trú rõ ràng (khoản 2 Điều 37). Tại Phần các tội phạm của Bộ luật, số lượng các khoản không quy định hình phạt tù tăng từ 06 khoản (theo BLHS năm 1999) lên 31 khoản.

Bên cạnh đó, BLHS tiếp tục thể chế hóa chủ trương hạn chế áp dụng hình phạt tử hình được khẳng định tại các Nghị quyết của Đảng về cải cách tư pháp, đặc biệt là Nghị quyết số 49/NQ-TW và bám sát tinh thần nội dung quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền sống của con người, theo đó, việc hạn chế hình phạt tử hình được thực hiện trên ba phương diện:

Thứ nhất, xác định rõ các nhóm tội phạm có thể áp dụng hình phạt tử hình, theo đó, hình phạt này chỉ áp dụng đối với một số trường hợp phạm những tội đặc biệt nghiêm trọng có tính bạo lực, thể hiện sự dã man, tàn bạo, mất nhân tính, cố tình tước đoạt sinh mạng người khác một cách bất hợp pháp hoặc đe dọa nghiêm trọng đến sự tồn vong của Nhà nước, của chế độ hoặc phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh.

Theo đó, khoản 1 Điều 40 của BLHS đã xác định rõ tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng thuộc một trong nhóm các tội xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm tính mạng con người, các tội phạm về ma túy, tham nhũng và một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác do BLHS quy định.

Thứ hai, mở rộng khả năng không áp dụng hình phạt tử hình cũng như không thi hành án tử hình đối với một số trường hợp.

Bộ luật cũng đã bổ sung thêm đối tượng không áp dụng hình phạt tử hình, theo đó, ngoài các đối tượng là người dưới 18 tuổi khi phạm tội, phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi như trước đây thì còn bổ sung thêm đối tượng là người đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử (khoản 2 Điều 40).

Về các trường hợp không thi hành án tử hình, ngoài trường hợp người bị kết án là phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, Bộ luật còn bổ sung thêm hai trường hợp không thi hành án tử hình. Đó là: (1) người bị kết án là người đủ 75 tuổi trở lên; (2) người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn thì không thi hành án tử hình đối với họ. Quy định này nhằm góp phần hạn chế tử hình trên thực tế (khoản 3 Điều 40).

Thứ ba, giảm bớt số lượng các tội danh trong BLHS có quy định hình phạt tử hình.

BLHS năm 2015 đã bỏ tử hình ở 07 tội danh được quy định trong Bộ luật: (1) cướp tài sản; (2) sản xuất, buôn bán hàng cấm là lương thực, thực phẩm; (3) tàng trữ trái phép chất ma túy; (4) chiếm đoạt chất ma túy; (5) phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia; (6) chống mệnh lệnh; (7) đầu hàng địch. Ngoài ra, đối với tội danh hoạt động phỉ thì Điều 83 của BLHS năm 1999 quy định tội này với mức hình phạt cao nhất là tử hình nhưng BLHS năm 2015 không còn tiếp tục quy định tội phạm này nữa.

Nguồn :