M
16:00 | 11/02/2018

Xuân kẻ Chợ

(LĐTĐ) Để chỉ và gọi tên miền đất bây giờ là trung tâm Thủ đô Hà Nội, bắt đầu từ các thế kỷ XVI, XVII, người ta thấy các giáo sĩ, thương nhân, nhà du lịch phương Tây lúc bấy giờ thường dùng và viết các chữ như: Tonkin (Tong Quin), Cacho (Kechu)... Tonkin (Tong Quin) thì đã rõ nghĩa rồi. Đó là từ phiên âm của Đông Kinh – tên mới của Thăng Long, Đông Đô, Đông Quan do vua Lê Thái Tổ đặt vào từ tháng 7/1430.

xuan ke cho Ấm lòng phiên chợ Bưởi

Thế còn Cacho (Kechu)? Những chữ này lần đầu xuất hiện ở trong sách “Nói về châu Á” (Da Asia) của giáo sĩ Barros, người Bồ Đào Nha. Sách được in vào năm 1550. Đó là thời điểm mà triều đại nhà Mạc, tuy đã làm chính biến, lật đổ và thay thế nhà Lê, nhưng vẫn tiếp tục lựa chọn Đông Kinh làm đất đóng đô.

Có nghĩa là sự phồn thịnh của một đô thị kinh kỳ đứng đầu cả nước Đại Việt được vun đắp từ thời nhà Lê ở thế kỷ XV, đến lúc này, không những vẫn được duy trì mà còn có phần phát triển hơn.

xuan ke cho

Một hình ảnh, diện mạo và đặc trưng của sự phồn thịnh và phát triển ấy là những cái chợ. Lời khen ngợi những phụ nữ đảm đang của Hà Nội xưa có câu: “Bán mít chợ Đông/ Bán hồng chợ Tây” Đấy là hai khu chợ trong bốn tụ điểm mua bán nổi tiếng, hình thành và được bố trí rất đắc địa, ở ngay trước bốn cổng Đông, Tây, Nam, Bắc của Thành cổ Hà Nội – Hoàng thành Thăng Long, nhộn nhịp hoạt động từ rất lâu đời.

Chợ Đông còn để lại hình ảnh và dấu tích trong câu ca dao trào phúng – được rất nhiều người thích thú: “Bà già đi chợ Cầu Đông...”, và trên thực địa, ở địa chỉ số 38 phố Hàng Đằng của những ngôi đền chùa Đông Kiều, và ở con phố Cầu Đông, ngay cạnh chợ Đồng Xuân.

xuan ke cho
Chợ Bưởi xưa

Còn chợ Tây thì chính là khu Hoàng Hoa thị (chợ hoa (cúc) vàng) nổi tiếng giữa các trang biên niên cổ sử nói về mấy trận đánh lớn thời Lê – Mạc và Lê – Trịnh, ở ngay trước cổng Tây của Cấm Thành Thăng Long. Và hậu thân của nó, bây giờ, chính là khu chợ Ngọc Hà, ở phố Ngọc Hà...

Chợ Cửa Bắc ngày xưa, giờ thì đã hóa thân thành Khu chợ Châu Long ở phố Châu Long, cách phố Cửa Bắc và chợ Cửa Nam, thì bây giờ vẫn có tên gọi và vị trí được bảo lưu nguyên vẹn ở tòa nhà đồ sộ với các văn phòng, trụ sở, ngân hàng... đang có chữ “Chợ Cửa Nam” đắp nổi ở bên ngoài, tọa lạc ngay cạnh “Nút giao thông Cửa Nam”.

Giữa các địa danh - tên gọi của nhiều kiến trúc cổ Thăng Long - Hà Nội, người ta thấy lưu lại trong nhiều cổ thư và văn bản cổ, những chữ như: “Tú Thị Đình”, tức: đình Chợ Thêu (ngôi đình ở khu chợ mua bán và làm các mặt hàng thêu) tọa lạc trong ngõ Yên Thái, trông ra khu chợ Hàng Da, mới được hoành tráng và hoa mỹ xây dựng lại thành một tòa nhà cao tầng đồ sộ, có đến 2 tầng hầm để chứa xe ô tô, xe máy và họp chợ ở bên dưới.

Còn “Đình Quyến yếm Thị” gọi tắt là “Quyến Thị Đình”, tức ngôi đình ở khu chợ bán yếm (và trang phục phụ nữ) bằng lụa thì chính là tên ngày xưa của di tích tham quan du lịch và trụ sở Ban quản lý Khu phố cổ, ở giữa phố Hàng Đào.

Đấy là những ngôi chợ nhỏ, ngày xưa vô vàn ở trong và làm nên một mạng lưới chợ đặc trưng và điển hình của Thăng Long – Hà Nội cổ. Trong các tài liệu sách vở, và trong ký ức của nhiều người Hà Nội, vẫn hiện diện những ngôi chợ ấy, với các tên gọi thân thương: Chợ Ông Nước (ở gần Ngọc Hà), Chợ Đông Thành (ở gần Cửa Đông), chợ Yên Thọ (ở Ô Cầu Dền), chợ Dịch Vọng (ở Ô Cầu Giấy), chợ Đình Ngang (ở mé ngoài cửa Đại Hưng, tức: Cửa Nam), chợ gạo (ở phố chợ gạo bây giờ), chợ Dừa (ở ô chợ Dừa, tức chợ Thịnh Quang), chợ Bưởi (ở vùng Kẻ Bưởi, tức: Chợ Yên Thái), chợ Huyện (ở Ngõ Huyện, nơi đặt trụ sở của huyện Thọ Xương), Chợ Mơ (ở vùng Kẻ Mơ – đất của cây và hoa Mơ – Mai), chợ Hôm (chỉ họp vào lúc chiều hôm ở phố Huế bây giờ), chợ Đuổi (ở phố chợ Đuổi, bây giờ là phố Tuệ Tĩnh)...

Trong “Thăng Long bát cảnh” (8 cảnh đẹp tiêu biểu của Thăng Long – Hà Nội xưa), có “Bạch mã sấn thị”, tức: Chợ chiều Bạch Mã”, gần chỗ có ngôi đền Bạch Mã cổ nhất Hà Nội (xây từ năm 866), ở phố Hàng Buồm. Chợ Yên Quang – ngôi chợ hoa của làng Yên Quang (bây giờ là vùng các phố Đăng Tất, Đặng Quang) nổi tiếng với câu ca dao tình tứ: “Ngày rằm phiên chợ Yên Quang / Yêu hoa anh đợi hoa nàng mới mua”.

Ở câu ca dao về ngôi chợ hoa Yên Quang này, thấy còn có chữ và hình ảnh của “chợ Phiên”. Đấy cũng là một thực thể tiêu biểu và điển hình của cả mạng lưới chợ, lẫn đô thị Thăng Long – Hà Nội xưa. Tác giải Ch.Labarthe, đến năm 1883, vẫn còn viết trong tài liệu “Hà Nội thủ phủ xứ Bắc Kỳ” (Hanoi, capitale du Tonking) rằng: “Vào ngày phiên chợ, đàn bà trẻ con từ những làng quê lân cận đến bày bán ra giữa đường phố, những gánh chuối, ổi, táo, vải, bưởi, quýt, dừa tùy theo mùa.

Những dân chài thì từ sáng sớm đã đến bán cá tươi, tôm, cua. Những người khác, bán vôi, trầu, cau. Người bán tạp hóa thì bày ra cá khô, và những lu đầy nước mắm, tất cả xông lên mũi và họng một mùi nồng nặc. Người bán thịt pha xẻ từng miếng thịt quay, thậm chí nguyên cả con lợn.

Và để làm đỏm, đã cắm thêm vào đó một bông hoa. Người bán thuốc bày ra các loại thảo dược. Thợ gốm bán các bình vại đủ mọi kích cỡ, và những ấm pha trà nhỏ tí xíu... Người ta để lẫn lộn cả ớt với vòng đeo cổ hổ phách, hạt tiêu với quạt giấy, muối ăn với vàng mã cúng tổ tiên...”.

Thăng Long – Hà Nội xưa, trong những ngày phiên chợ như thế đã thực sự hóa thân thành một cái chợ khổng lồ. Để chỉ một vùng, miền, ngày xưa có chữa “Kẻ”, như: Kẻ Mơ là vùng quận Hoàng Mai ngày nay, Kẻ Mọc là vùng quận Thanh Xuân bây giờ.

Vùng trung tâm Thăng Long – Hà Nội xưa, cũng là một “Kẻ” như thế. Và trong trường hợp có rất nhiều chợ, thậm chí hóa thân thành một cái chợ khổng lồ, thì đấy là một “Kẻ Chợ”. Đến lượt mình, “Kẻ Chợ”, khi được phiên âm sang tiếng phương Tây, thì đó là “Cacho”, là “Kechu”.

Nhà sử học Lê Văn Lan

Nguồn :