Luật Trí tuệ nhân tạo: Cam kết của Việt Nam làm chủ công nghệ, kiến tạo tương lai số
Theo ông Sơn, trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và quá trình phát triển kinh tế - xã hội đang diễn ra mạnh mẽ, trí tuệ nhân tạo đã vượt qua giới hạn của một công nghệ đơn thuần để trở thành một hạ tầng chiến lược, tác động sâu sắc đến phương thức sản xuất, quản trị và tổ chức xã hội.
![]() |
| Ông Trần Văn Sơn - Phó Viện trưởng Viện Công nghệ số và Chuyển đổi số quốc gia chia sẻ về Luật Trí tuệ nhân tạo. |
Trên cơ sở đó, việc Quốc hội Việt Nam ban hành Luật Trí tuệ nhân tạo - Luật số 134/2025/QH15 là một bước đi tất yếu, mang ý nghĩa lịch sử, nhằm thiết lập khuôn khổ pháp lý vừa kiến tạo không gian cho đổi mới sáng tạo, vừa quản lý hiệu quả các rủi ro tiềm năng.
Luật Trí tuệ nhân tạo của Việt Nam được ban hành trong bối cảnh trên thế giới hiện mới có ba khu vực và quốc gia ban hành luật AI, gồm Liên minh châu Âu (EU), Hàn Quốc và Nhật Bản. Các quốc gia khác chủ yếu mới dừng ở mức chiến lược, hướng dẫn hoặc dự thảo luật.
Trong đó, EU tiếp cận theo hướng quản lý chặt chẽ, chi tiết, nhấn mạnh an toàn; Nhật Bản theo hướng thúc đẩy phát triển; Hàn Quốc ban hành luật ở mức cơ bản, đề cập cả an toàn và phát triển nhưng thiên về phát triển, yêu cầu an toàn tương đối nhẹ. Cách tiếp cận của Việt Nam là bảo đảm mức độ an toàn cao hơn khung cơ bản của Hàn Quốc, thúc đẩy phát triển mạnh mẽ như Nhật Bản, đồng thời hài hòa giữa an toàn và phát triển.
“Sự ra đời của Luật Trí tuệ nhân tạo Việt Nam hướng tới mục tiêu kép: lấp đầy khoảng trống pháp lý để quản lý các hình thức ứng dụng mới của AI; đồng thời, chuyển từ tư duy quản lý bị động sang kiến tạo chủ động. Qua đó, luật góp phần thể chế hóa các chủ trương của Đảng, định hình trí tuệ nhân tạo trở thành động lực tăng trưởng kinh tế cốt lõi của quốc gia”, ông Sơn nhấn mạnh.
Cũng theo ông Sơn, Luật được xây dựng trên nguyên tắc định hướng lấy con người làm trung tâm, bảo đảm AI được phát triển và ứng dụng một cách an toàn, minh bạch, có trách nhiệm, vì lợi ích của con người. Luật khẳng định AI là công cụ hỗ trợ, không thay thế vai trò quyết định của con người; việc phát triển AI phải song hành với bảo vệ lợi ích quốc gia và quyền lợi công dân.
Về phạm vi và đối tượng áp dụng, luật quy định toàn diện các hoạt động liên quan đến nghiên cứu, phát triển, cung cấp, triển khai và sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo tại Việt Nam, ngoại trừ các hoạt động AI phục vụ riêng cho mục đích quốc phòng, an ninh quốc gia và cơ yếu do tính chất đặc thù. Luật áp dụng đối với mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam, cũng như tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia hoạt động AI trên lãnh thổ Việt Nam. Quy định này thiết lập cơ chế quản lý đối với các hoạt động xuyên biên giới, qua đó khẳng định chủ quyền quốc gia.
Về nội dung cốt lõi, Luật Trí tuệ nhân tạo được thiết kế theo mô hình luật khung, gồm 8 chương, 35 điều, tập trung vào các nguyên tắc nền tảng, đồng thời dành sự linh hoạt cho Chính phủ quy định chi tiết nhằm thích ứng với tốc độ thay đổi nhanh của công nghệ.
Cụ thể, luật tập trung giải quyết các nhóm vấn đề chính sau: Thứ nhất, quy định các nguyên tắc và phạm vi chính sách phát triển trí tuệ nhân tạo, bảo đảm phát triển vì con người, lấy con người làm trung tâm, xác định rõ vai trò của Nhà nước trong quản lý, điều phối và kiến tạo phát triển AI quốc gia.
Thứ hai, thiết lập cơ chế quản lý theo mức độ rủi ro, bảo đảm việc phát triển, ứng dụng và sử dụng AI được an toàn, minh bạch, có thể kiểm soát và có trách nhiệm giải trình, đồng thời bảo đảm quản lý linh hoạt, hiệu quả, khuyến khích đổi mới sáng tạo.
Thứ ba, phát triển hạ tầng và bảo đảm chủ quyền trí tuệ nhân tạo quốc gia, bao gồm hạ tầng dữ liệu, hạ tầng tính toán và các nền tảng dùng chung, bảo đảm an ninh, an toàn, quyền tự chủ công nghệ và chủ quyền dữ liệu quốc gia.
![]() |
| AI đã vượt qua giới hạn của một công nghệ đơn thuần để trở thành một hạ tầng chiến lược. Ảnh minh họa. |
Thứ tư, thúc đẩy hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và phát triển nguồn nhân lực thông qua các cơ chế, chính sách hỗ trợ nghiên cứu, đầu tư, đào tạo nhân lực chất lượng cao, tạo điều kiện cho doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân tham gia phát triển, ứng dụng AI.
Thứ năm, quy định về đạo đức và trách nhiệm trong hoạt động trí tuệ nhân tạo, ban hành khung đạo đức AI quốc gia, bảo đảm hệ thống AI được phát triển và sử dụng vì con người, không gây hại, không phân biệt đối xử, tôn trọng các giá trị nhân văn.
Thứ sáu, tăng cường cơ chế giám sát, thanh tra và xử lý vi phạm, bảo đảm tính răn đe, công khai, minh bạch, qua đó củng cố niềm tin xã hội trong phát triển và ứng dụng trí tuệ nhân tạo.
Về tác động và ý nghĩa thực tiễn, Luật Trí tuệ nhân tạo được kỳ vọng tạo ra bước đột phá chiến lược, giúp Việt Nam chuyển từ quốc gia tiêu thụ sang quốc gia kiến tạo giá trị, thông qua việc giải quyết các điểm nghẽn cốt lõi về thể chế, hạ tầng, dữ liệu và tài chính. Về kinh tế, luật thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia thông qua các cơ chế ưu đãi, quỹ phát triển AI. Về xã hội, luật góp phần xác lập hành lang pháp lý nhân văn, bảo vệ quyền lợi công dân trước các rủi ro đạo đức do AI gây ra.
Đặc biệt, luật định hướng làm chủ các mô hình nền tảng, mô hình ngôn ngữ lớn và dữ liệu bản địa, giúp AI hiểu sâu sắc văn hóa Việt Nam, đồng thời củng cố vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia trong kỷ nguyên số.
“Như vậy, Luật Trí tuệ nhân tạo không chỉ là một công cụ quản lý, mà còn là cam kết chiến lược của Việt Nam trong việc làm chủ công nghệ, bảo vệ con người và kiến tạo một tương lai số chủ động, an toàn và nhân văn”, Phó Viện trưởng Viện Công nghệ số và Chuyển đổi số quốc gia thông tin.
Có thể bạn quan tâm
Nên xem
Kinh tế và văn hóa - cặp trụ cột chiến lược định hình con đường phát triển bền vững của Hà Nội
Hà Nội tiên phong đưa Nghị quyết của Đảng vào cuộc sống: Chuyển từ tư duy đến hành động thực chất
Văn hóa trở thành nền tảng vững chắc và trụ cột của phát triển đất nước
Hà Nội kiến tạo động lực phát triển mới: Đổi mới tư duy và cân bằng giá trị phát triển
Hà Nội chủ động, gương mẫu đưa Nghị quyết 79, 80 vào cuộc sống
Phường Tây Hồ gặp mặt ứng cử viên đại biểu HĐND, nhiệm kỳ 2026-2031
Phát huy sức mạnh kinh tế - văn hóa để kiến tạo Thủ đô bền vững
Tin khác
Nghị quyết 80: Từ nền tảng tinh thần đến động lực phát triển bền vững
Việt Nam - Kỷ nguyên vươn mình 27/02/2026 21:50
Nghị quyết 79: Phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong giai đoạn mới
Việt Nam - Kỷ nguyên vươn mình 26/02/2026 07:59
Người dân hưởng lợi gì từ các chính sách công nghệ có hiệu lực năm 2026?
Việt Nam - Kỷ nguyên vươn mình 20/02/2026 22:14
Đẩy mạnh đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới
Việt Nam - Kỷ nguyên vươn mình 18/02/2026 11:00
Tạo kỳ tích sông Hồng từ mùa xuân mới
Việt Nam - Kỷ nguyên vươn mình 16/02/2026 22:07
“Kỳ tích sông Hồng”: Động lực hành động của cán bộ, đảng viên và nhân dân Thủ đô
Việt Nam - Kỷ nguyên vươn mình 16/02/2026 22:07
Dấu ấn Thủ đô qua Lễ mở ký Công ước Hà Nội
Việt Nam - Kỷ nguyên vươn mình 16/02/2026 11:34
Nhiệm vụ trọng tâm của công tác đối ngoại trong kỷ nguyên mới
Việt Nam - Kỷ nguyên vươn mình 16/02/2026 11:31
Trực tiếp tọa đàm “Kiến tạo Kỳ tích sông Hồng”
Nhịp sống Thủ đô 16/02/2026 11:27
Chuyển đổi số - Dấu ấn trong thành tựu Ngoại giao
Việt Nam - Kỷ nguyên vươn mình 15/02/2026 14:53

