M
03/11/2020 11:22

Thực thi các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (FTA):

Doanh nghiệp Việt vẫn chưa tận dụng tốt!

(LĐTĐ) Có thể thấy, thời gian qua việc tham gia các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (FTA) đã nâng tầm nền kinh tế Việt Nam trên trường quốc tế; đầu tư nước ngoài tăng mạnh, thị trường xuất nhập khẩu được mở rộng kéo theo kim ngạch xuất nhập khẩu tăng trưởng cao...Tuy nhiên, một thực trạng đáng lo ngại được đưa ra đó là, hiện các doanh nghiệp nước ngoài nắm bắt và khai thác hiệu quả hơn các lợi ích FTA, trong khi doanh nghiệp nội địa dường như quá hạn chế.

Cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam và Vương quốc Anh Tăng cường kết nối giữa doanh nghiệp Việt với các đối tác châu Mỹ

Nâng tầm hàng Việt ngay tại sân nhà

Hiện nay, các hiệp định thương mại tự do (FTA) đã trở thành một trào lưu chung trên thế giới trong xu thế toàn cầu hóa, đồng thời là xu hướng mở rộng hợp tác kinh tế được nhiều quốc gia lựa chọn. Theo thống kê của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), tính đến ngày 17/1/2020, cả thế giới đã có 303 hiệp định FTA có hiệu lực trong tổng số 483 hiệp định FTA được các nước thành viên thông báo lên WTO.

Doanh nghiệp Việt vẫn chưa tận dụng tốt!
Các doanh nghiệp Việt vẫn chưa tận dụng tốt được lợi thế mang lại từ các FTA (ảnh: Đ.Đ)

Không nằm ngoài quá trình đó, Việt Nam hiện là thành viên của nhiều FTA. Trong số 13 FTA đã có hiệu lực và đang triển khai, Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) là FTA thế hệ mới đầu tiên mà Việt Nam tham gia, tiếp theo đó là Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu (EVFTA).

Đánh giá về những lợi ích từ các FTA mang lại, tại Diễn đàn Nâng cao sức cạnh tranh của hàng Việt trước thời cơ, thách thức từ các Hiệp định thương mại thế hệ mới, Thứ trưởng Bộ Công Thương Đỗ Thắng Hải cho biết, việc tham gia các FTA đã giúp thị trường xuất nhập khẩu được mở rộng và đa dạng hóa; thị trường dịch vụ tài chính phát triển hơn với sự tham gia của nhiều nhà đầu tư nước ngoài; hệ thống thể chế, chính sách cũng từng bước được hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập và thực thi cam kết trong các FTA... Cùng với việc gia nhập WTO từ năm 2007, việc tham gia các FTA đã góp phần thúc đẩy Tổng sản phẩm nội địa (GDP) của Việt Nam tăng hơn 300%, kim ngạch xuất nhập khẩu tăng 350%.

Đặc biệt, trong khi dịch bệnh Covid-19 vẫn đang có diễn biến phức tạp trên toàn thế giới. Nhiều nước phải thực hiện lệnh phong tỏa vì dịch bệnh, nguồn cung và nhu cầu bị gián đoạn, nhiều chỉ số kinh tế sụt giảm so với cùng kỳ thì tại Việt Nam và nhiều nước trên thế giới, bán lẻ hàng hóa nổi lên là một trong những điểm sáng của kinh tế vĩ mô.

Số liệu từ Tổng cục Thống kê cho thấy, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng quý III/2020 ước tính đạt 1.305,8 nghìn tỷ đồng, tăng 14,4% so với quý II/2020 và tăng 4,5% so với cùng kỳ năm trước. Xét theo ngành hoạt động, doanh thu bán lẻ hàng hóa 9 tháng năm 2020 đạt 2.907,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 79,1% tổng mức và tăng 4,8% so với cùng kỳ năm trước.

“Đây là kết quả tích cực, thể hiện rõ vai trò của nguồn cung hàng hóa nội địa trong các bối cảnh dịch bệnh, thiên tai diễn biến khó lường. Đồng thời thể hiện rõ vai trò của hàng Việt tại thị trường nội địa khi ngày càng được người tiêu dùng ưa chuộng”, Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải khẳng định.

Hàng Việt vẫn đang được đánh giá cao và được các nhà phân phối, bán lẻ ưu tiên trong cơ cấu hàng hóa bày bán trong siêu thị. Tỷ lệ hàng Việt tại các hệ thống phân phối hiện đại được duy trì ở mức cao. Cụ thể, hàng hóa Việt ở Co.opmart chiếm 90%-93%, Satra 90%-95%, Vinmart 96%, Vissan 95%, Hapro 95%…

Xây dựng lực lượng doanh nghiệp Việt vững mạnh

Bên cạnh những lợi ích từ các FTA mang lại, doanh nghiệp Việt cũng đứng trước nhiều thách thức khi hàng hóa của nhiều quốc gia sẽ tăng nhập khẩu vào Việt Nam nhờ được hưởng ưu đãi thuế quan. Song song với đó, việc Việt Nam mở cửa thị trường cho hàng hóa, dịch vụ đến từ các nước đối tác khiến thị trường trong nước không còn là khái niệm “sân nhà”. Đặc biệt, đối với những nhóm ngành hàng mà Việt Nam có sức cạnh tranh chưa cao như nông nghiệp, chăn nuôi, thủy sản và một số ngành dịch vụ khác…

Số liệu từ Tổng cục thống kê cũng cho thấy, hiện khu vực doanh nghiệp tư nhân Việt Nam chỉ đóng góp chưa đến 10% GDP, trong khi đó khu vực doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đóng góp từ 22-23% GDP. Chưa hết, trên bản đồ xuất khẩu, khu vực kinh tế bản địa chỉ đóng góp khoảng 30% tổng kim ngạch xuất khẩu, thì khu vực doanh nghiệp FDI lại có tỉ lệ xuất khẩu chiếm 2/3; đóng góp 70% kim ngạch xuất khẩu.

“Hai yếu tố nêu trên, vận hành trong không gian “công khai, minh bạch”, sẽ là nền tảng để phát triển môi trường cạnh tranh lành mạnh – cái mà các doanh nghiệp Việt Nam cần nhất hiện nay. Có được môi trường cạnh tranh sẽ thoát khỏi rất nhiều nỗi lo hiện tại cho số phận của khu vực doanh nghiệp bản địa Việt Nam, đặc biệt là khu vực doanh nghiệp tư nhân”, PGS.TS Trần Đình Thiên cho hay.

Đề cập đến vấn đề này, ông Trần Duy Đông, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư thẳng thắn chia sẻ, mặc dù là động lực phát triển quan trọng của nền kinh tế và chiếm tới gần 98% tổng số doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế nhưng đa số là các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, các doanh nghiệp vừa và lớn chiếm tỉ trọng quá ít (khoảng 3%), tạo thành chỗ khuyết thiếu cơ cấu nghiêm trọng. Do quy mô nhỏ bé nên khả năng tích tụ và tập trung vốn để đầu tư, đổi mới công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao trình độ quản lý... của doanh nghiệp Việt Nam bị hạn chế.

“Doanh nghiệp quy mô nhỏ bé nên chưa đầu tư vào công nghệ, chưa có chiến lược lâu dài để đầu tư cho sự phát triển dài hạn. Ngược lại, khi doanh nghiệp chưa có công nghệ và chiến lược, dẫn tới doanh nghiệp khó tạo được sự tin tưởng từ các đối tác. Bên cạnh đó, bản thân các doanh nghiệp Việt Nam rất khó để hợp tác phát triển cùng nhau, khó trở thành các đối tác dài hạn cùng phát triển, không hỗ trợ và nâng đỡ nhau để cùng hướng tới mục tiêu phát triển chung”, Thứ trưởng Trần Duy Đông chỉ rõ.

Cùng với những khó khăn mà Thứ trưởng Trần Duy Đông đưa ra, theo đánh giá của các chuyên gia, một trong những hạn chế của doanh nghiệp Việt đó chính là chưa tham gia được vào hệ sinh thái và chuỗi giá trị của các doanh nghiệp đầu chuỗi và doanh nghiệp nước ngoài. Cùng với đó, mối liên kết giữa các doanh nghiệp tư nhân trong nước và doanh nghiệp nước ngoài, giữa các doanh nghiệp nhỏ và các doanh nghiệp lớn là không đảng kể và còn hạn chế…

Để giải quyết những hạn chế này, theo PGS.TS Trần Đình Thiên, thành viên Tổ tư vấn của Chính phủ cho biết, cần nỗ lực xây dựng các nền tảng của kinh tế thị trường, chính là các thị trường đầu vào (thị trường các nguồn lực) đúng nghĩa. Bên cạnh đó, nhanh chóng đoạn tuyệt với hệ thống phân bổ nguồn lực theo nguyên tắc “xin – cho”. Đây là nguồn gốc cơ bản và trực tiếp của hệ thống tham nhũng, lãng phí, làm méo mó toàn bộ cấu trúc thị trường.

“Hai yếu tố nêu trên, vận hành trong không gian “công khai, minh bạch”, sẽ là nền tảng để phát triển môi trường cạnh tranh lành mạnh – cái mà các doanh nghiệp Việt Nam cần nhất hiện nay. Có được môi trường cạnh tranh sẽ thoát khỏi rất nhiều nỗi lo hiện tại cho số phận của khu vực doanh nghiệp bản địa Việt Nam, đặc biệt là khu vực doanh nghiệp tư nhân”, PGS.TS Trần Đình Thiên cho hay.

Ngoài ra, cần áp dụng hệ thống khuyến khích “thưởng người thắng” thay cho cách điều hành nền kinh tế theo nguyên lý “chọn người thắng”. Sự thay thế này sẽ giúp kích thích tinh thần đua tranh giành thắng một cách đàng hoàng trong cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam. Xác lập cách tư duy – tiếp cận mới về “mời gọi đại bàng” và “làm tổ cho đại bàng đến đẻ trứng”. Phải đặt việc xây dựng lực lượng doanh nghiệp Việt thành một Chương trình – Chiến lược hành động quốc gia ưu tiên hàng đầu, trong đó, việc gây dựng đội ngũ “đại bàng quốc tịch Việt” phải là nhiệm vụ mang tính trụ cột.../.

Tuấn Minh

Nguồn :