M
09:48 | 02/11/2016

Khảo sát ngẫu nhiên 100% mẫu nước mắm đều an toàn

Vừa qua, Bộ NN&PTNT đã có văn bản báo cáo Thủ tướng Chính phủ thông tin về chất lượng nước mắm theo chỉ đạo của Thủ tướng. Theo đó, 247/247 mẫu nước mắm của 210 nhãn hiệu khác nhau đến từ 82 cơ sở sản xuất không nhiễm thạch tín (Arsen vô cơ), không ảnh hưởng đến sức khỏe người dân.

khao sat ngau nhien 100 mau nuoc mam deu an toan Bộ Y tế: Không phát hiện ra nước mắm có arsen hay kim loại nặng
khao sat ngau nhien 100 mau nuoc mam deu an toan Người dân không nên hoang mang

Theo đó, thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ NN&PTNT đã cử đại diện tham gia các đoàn kiểm tra liên ngành với Bộ Y tế, Bộ Công Thương để kiểm tra việc chấp hành pháp luật về an toàn thực phẩm đối với việc sản xuất kinh doanh nước mắm.

Kết quả kiểm tra cho thấy, 247/247 mẫu nước mắm của 210 nhãn hiệu khác nhau đến từ 82 cơ sở sản xuất không nhiễm thạch tín (Arsen vô cơ), không ảnh hưởng đến sức khỏe người dân.

khao sat ngau nhien 100 mau nuoc mam deu an toan
Kết quả khảo sát ngẫu nhiên cho thấy 100% mẫu nước mắm đều cho kết quả an toàn

Bộ NN&PTNT cũng thông tin thêm, sản phẩm nước mắm được lên men từ cá có tồn tại Arsen hữu cơ. Arsen hữu cơ không gây độc cho người, vì vậy không cần đánh giá mức độ nguy hại và quy định giới hạn tố đa trong thực phẩm. Còn Arsen vô cơ hay còn gọi là thạch tín gây độc cho người, do vậy, có quy định giới hạn tối đa trong thực phẩm.

Hiện nay, theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với giới hạn ô nhiễm kim loại nặng trong thực phẩm, hàm lượng Arsen vô cơ tối đa trong nước chấm (gồm cả nước mắm) được quy định là 1mg/kg. Một số khảo sát về hàm lượng Arsen có trong nước mắm sản xuất ở Việt Nam và Thái Lan xuất sang Áo cho thấy tổng Arsen chỉ từ 0,69-2,75mg/l, trong đó chủ yếu là arsenobetaine, một dạng Arsen hữu cơ không độc hại.

Bộ Y tế cũng đã ban hành Thông tư 27/2012/TT-BYT và Thông tư 08/2015/TT-BYT quy định 400 phụ gia được phép sử dụng trong sản xuất thực phẩm, trong đó quy định 17 phụ gia được phép sử dụng trong sản xuất nước mắm hoàn toàn phù hợp với Tiêu chuẩn quốc tế Codex Standard 302:2011. Như vậy, theo quy định hiện hành, trong sản xuất nước mắm có thể sử dụng một hoặc một số phụ gia nằm trong danh sách 17 phụ gia quy định tại hai Thông tư trên.

Một vấn đề cũng gây nhiều tranh cãi trong thời gian vừa qua đó là khái niệm về nước mắm và nước chấm. Hiện nay, chưa có văn vản nào quy định cụ thể về khái niệm nước mắm truyền thống và nước mắm pha chế từ nước mắm truyền thống. Điều này dẫn đến các cách hiểu khác nhau về nước mắm truyền thống. Để đảm bảo minh bạch, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Bộ NN&PTNT sẽ rà soát Tiêu chuẩn Việt Nam về nước mắm (TCVN 5107:2003) để làm rõ khái niệm nước mắm truyền thống, phân biệt với các loại sản phẩm khác pha chế từ nước mắm.

Đối với nước chấm, trước đây đã có Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN 1763:1986) do Bộ Công nghiệp thực phẩm ban hành về nước chấm. Tuy nhiên, tiêu chuẩn này đã được thay thế bằng Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN 1763:2008) về nước tương do Bộ Khoa học công nghệ ban hành.

Theo phân loại tại Tiêu chuẩn quốc tế Codex Stan 192-1995, nhóm sản phẩm nước chấm bao gồm nhiều loại khác nhau, trong đó nước mắm được xếp vào nhóm nước chấm trong. Do nguồn nguyên liệu sản xuất nước chấm và nước mắm khác nhau, rủi ro về an toàn thực phẩm khác nhau nên Bộ NN&PTNT sẽ rà soát, xây dựng tiêu chuẩn riêng về nước chấm và quy định danh mục chỉ tiêu, mức giới hạn an toàn thực phẩm riêng cho nước chấm và nước mắm.

Về phân loại nước mắm, theo Tiêu chuẩn Việt Nam về nước mắm (TCVN 5107:2003), nước mắm có hàm lượng Nitơ toàn phần không nhỏ hơn 25g/l, 20g/l, 15g/l, 10g/l được phân loại tương ứng là loại đặc biệt, loại thượng hạng, loại 1 và loại 2.

Về vấn đề ghi nhãn, kết quả thanh, kiểm tra cho thấy, hiện nay, một số cơ sở sản xuất chỉ thể hiện thông tin về hàm lượng đạm tổng trên nhãn, không công bố hàm lượng đạm axit amin hay đạm amoniac hoặc công bố không trung thực hàm lượng đạm trên nhãn. Ngoài ra, đối với các cơ sở sản xuất nước mắm sử dụng phụ gia thì việc thể hiện các thông tin về các loại phụ gia đã được sử dụng trong quá trình sản xuất nước mắm chưa minh bạch. Cụ thể như thể hiện không đầy đủ các loại phụ gia sử dụng; chỉ thể hiện mã số ký hiệu phụ gia; thể hiện các nội dung trên nhãn không đúng kích cỡ….

Để phù hợp hơn với thực tiễn sản xuất kinh doanh nước mắm hiện nay, đồng thời, đảm bảo thông tin rõ ràng, minh bạch quyền lợi cho người tiêu dùng, thuận lợi cho cơ quan quản lý, Bộ NN&PTNT sẽ nghiên cứu, rà soát toàn diện Tiêu chuẩn Việt Nam về nước mắm (TCVN 5107:2003) để làm rõ hơn khái niệm nước mắm truyền thống, quy định cụ thể hơn về phân loại, ghi nhãn và các nội dung khác để đảm bảo phù hợp, hài hòa với Tiêu chuẩn quốc tế Codex stan 302:2011 “Standard for fish sauce”.

Nguồn :