Vươn mình trong hội nhập quốc tế

Báo Lao động Thủ đô xin trân trọng giới thiệu bài viết “Vươn mình trong hội nhập quốc tế” của đồng chí Tô Lâm - Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.
Học tập suốt đời Phát triển kinh tế tư nhân - Đòn bẩy cho một Việt Nam thịnh vượng Tương lai cho thế hệ vươn mình

Nhìn lại lịch sử Cách mạng nước ta, hội nhập và phát triển của đất nước luôn gắn liền với những biến chuyển của thời đại. Ngay từ những ngày đầu lập nước, trong bức thư gửi tới Liên hợp quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ tinh thần là Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước, bày tỏ mong muốn “thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực”. Đây có thể được coi là “bản tuyên ngôn” đầu tiên về cách tiếp cận của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa với cộng đồng quốc tế.

Tư tưởng “kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại” đó đã được Đảng ta vận dụng sáng tạo trong 80 năm qua, luôn gắn cách mạng nước ta với trào lưu tiến bộ của thời đại và sự nghiệp chung của nhân loại.

Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Tô Lâm.
Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Tô Lâm.

Bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng ta xác định muốn hòa bình và phát triển thì phải mở cửa với bên ngoài, hợp tác với các quốc gia khác, trong đó hội nhập quốc tế là hình thức, trình độ phát triển cao của hợp tác quốc tế. Nói cách khác hội nhập quốc tế là “đặt đất nước vào dòng chảy chính của thời đại, đập cùng nhịp đập, thở cùng hơi thở của thời đại”, gia tăng sức mạnh của mình thông qua việc gắn kết với thế giới. Đảng đã đề ra chủ trương hội nhập quốc tế, trước là hội nhập kinh tế, sau là hội nhập toàn diện để khơi thông, mở rộng quan hệ với các quốc gia và tổ chức quốc tế, tranh thủ nguồn lực bên ngoài cho phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao vai trò, vị thế của quốc gia, đưa Việt Nam hội nhập vào nền chính trị thế giới, nền kinh tế quốc tế và nền văn minh nhân loại.

Đất nước ta đang bước vào kỷ nguyên vươn mình tới thịnh vượng, hùng cường, “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” đòi hỏi phải có tâm thế, vị thế mới và tư duy, cách tiếp cận mới về hội nhập quốc tế. Sự ra đời của Nghị quyết 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị về “Hội nhập quốc tế trong tình hình mới” là “quyết sách đột phá”, đánh dấu bước ngoặt có tính lịch sử trong quá trình hội nhập của đất nước với việc định vị hội nhập quốc tế là động lực quan trọng đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới. Trong đó hội nhập quốc tế chuyển từ tiếp nhận sang đóng góp, từ hội nhập sâu rộng sang hội nhập đầy đủ, từ vị thế một quốc gia đi sau sang trạng thái một quốc gia vươn lên, tiên phong vào những lĩnh vực mới.

Đảng ta xác định hội nhập quốc tế là chiến lược quan trọng nhằm củng cố vị thế chính trị, thúc đẩy phát triển kinh tế, đảm bảo an ninh quốc gia, nâng tầm ảnh hưởng của đất nước trên bản đồ thế giới. Hội nhập quốc tế đã từng bước phát triển qua các thời kỳ, từ hội nhập có giới hạn, có chọn lọc, thiên về ý thức hệ, hội nhập kinh tế đơn thuần ban đầu đến “hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện” hiện nay. Đại hội Đảng lần thứ IX lần đầu tiên đề ra chủ trương “hội nhập kinh tế quốc tế”. Đại hội Đảng lần thứ XI đánh dấu một bước chuyển trong tư duy từ “hội nhập kinh tế quốc tế” sang “hội nhập quốc tế trên tất cả các lĩnh vực”. Nghị quyết số 22-NQ/TW về hội nhập quốc tế ngày 10/4/2013 của Bộ Chính trị là sự cụ thể hóa đường lối hội nhập quốc tế với chủ trương “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”. Gần đây nhất, tại Đại hội lần thứ XIII của Đảng, định hướng chiến lược này một lần nữa được phát triển, hoàn thiện hơn thành “chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng có hiệu quả”.

Trong 40 năm đổi mới, tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam đã đạt những kết quả quan trọng, mang tầm vóc lịch sử. Từ một đất nước bị bao vây cô lập, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia trên thế giới, có quan hệ Đối tác chiến lược và Đối tác toàn diện với 34 nước, trong đó có tất cả các thành viên thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc, các nước lớn; là thành viên tích cực của trên 70 tổ chức khu vực và quốc tế, có quan hệ chính trị, quốc phòng, an ninh phát triển sâu rộng, thực chất. Từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, trình độ thấp, bị bao vây, cấm vận, Việt Nam đã trở thành một trong 34 nền kinh tế lớn nhất thế giới, quy mô kinh tế tăng gần 100 lần so với năm 1986, thu nhập bình quân đầu người tăng từ dưới 100 USD lên gần 5.000 USD. Việc tham gia các thỏa thuận hợp tác, liên kết kinh tế quốc tế đa tầng nấc, nhất là 17 hiệp định thương mại tự do (FTA) đã gắn kết Việt Nam với hơn 60 nền kinh tế chủ chốt, tham gia sâu hơn vào các chuỗi sản xuất, cung ứng toàn cầu, đưa Việt Nam lọt vào nhóm 20 nước có quy mô thương mại lớn nhất thế giới; nằm trong nhóm 20 nền kinh tế thu hút nhiều vốn đầu tư nước ngoài nhất thế giới từ năm 2019 đến nay, là một trong 10 quốc gia có lượng kiều hối lớn nhất thế giới.

Tuy nhiên, nhìn nhận một cách tổng thể, nghiêm túc và khách quan, kết quả thực hiện các chủ trương hội nhập quốc tế vẫn còn những điểm chưa thực sự như mong đợi, chưa đạt các mục tiêu đề ra, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển, nhất là vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế, rào cản, nút thắt đang cản trở sự phát triển. Hội nhập quốc tế mang lại nhiều cơ hội, nhưng cũng đem lại không ít thách thức và mặt trái như: cạnh tranh không công bằng, tăng trưởng không bền vững, gia tăng khoảng cách giàu nghèo, ô nhiễm môi trường, nguy cơ “chệch hướng”, “xâm lăng văn hóa”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, “sói mòn niềm tin” trong nội bộ…

Thế giới đang đứng trước những thay đổi căn bản mang tính thời đại, biến đổi sâu sắc về mọi mặt dưới tác động của các chuyển dịch lớn của chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học - công nghệ. Giai đoạn từ nay đến năm 2030 là giai đoạn quan trọng nhất để định hình và xác lập trật tự thế giới mới. Những thay đổi này đang tạo ra một môi trường quốc tế đa chiều hơn, mở ra những vận hội lớn cùng nhiều thách thức lớn cho đất nước. Trong giai đoạn giao thời, quá độ giữa cái cũ và cái mới, các nước vừa và nhỏ thường bị đặt ở thế bị động, không kịp thích ứng. Trong lần chuyển đổi này, nếu không kịp thời bắt nhịp với thế giới, nhận diện và tranh thủ cơ hội để đặt đất nước vào đúng dòng chảy của thời đại trong 10 năm, 20 năm tới, nguy cơ tụt hậu sẽ hiện hữu hơn bao giờ hết.

Sức mạnh thời đại hiện nay là các xu thế chính trị, kinh tế, xã hội trên thế giới như hòa bình, hợp tác và phát triển, xu thế dân chủ hóa quan hệ quốc tế, xu thế phát triển bền vững, xu thế hợp tác và liên kết kinh tế; là sức mạnh của cộng đồng quốc tế đồng thuận trong kiến tạo, củng cố thế giới đa cực, đa trung tâm, dân chủ, công bằng, bình đẳng, dựa trên luật pháp quốc tế và đặc biệt là cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang mở ra không gian phát triển vô tận dựa trên tri thức và tiềm năng con người.

Đứng trước thời điểm lịch sử, đất nước cần những quyết sách lịch sử. Kế thừa những giá trị đã được khẳng định, Nghị quyết 59 đã nắm bắt được dòng chảy của sức mạnh thời đại và “nâng tầm” hội nhập quốc tế với những quan điểm mang tính cách mạng, tính đột phá, tính dân tộc, tính khoa học, tính thời đại cao.

Trước hết, cùng với quốc phòng, an ninh, “đẩy mạnh đối ngoại và hội nhập quốc tế” là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên. Tinh thần trọng yếu thường xuyên trong hội nhập quốc tế là phải tranh thủ nguồn lực, điều kiện thuận lợi bên ngoài cho mục tiêu bảo vệ Tổ quốc và phát triển đất nước từ sớm, từ xa; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc, đảm bảo tốt nhất lợi ích của nhân dân.

Thứ hai, trong nhận thức, hội nhập quốc tế phải là sự nghiệp của toàn dân, của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước. Người dân và doanh nghiệp là trung tâm, chủ thể, động lực, lực lượng chủ công và đối tượng thụ hưởng các lợi ích của hội nhập quốc tế. Hội nhập nhưng vẫn giữ bản sắc dân tộc, hội nhập, hòa nhập chứ không hòa tan.

Thứ ba, hội nhập quốc tế phải trên cơ sở nội lực có vai trò quyết định, gia tăng nội lực đi đôi với với tranh thủ ngoại lực. Nội lực là nguồn lực chính, là gốc rễ cho sức mạnh, vì vậy phải luôn được phát huy để đảm bảo tính chủ động, độc lập, tự cường nhưng đồng thời, cần tranh thủ cao độ mọi nguồn lực từ bên ngoài để kết hợp và bổ sung cho nội lực. Kết hợp nhuần nguyễn giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, tạo ra sức mạnh Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình.

Thứ tư, hội nhập quốc tế là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh, “hợp tác để đấu tranh và đấu tranh để hợp tác. Chú trọng phần đối tác, hạn chế phần đối tượng”. Đồng thời, tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế. Trong hội nhập, phải thể hiện đúng tinh thần “đối tác tích cực, có trách nhiệm” của cộng đồng quốc tế, sẵn sàng đóng góp cho những nỗ lực chung của khu vực và thế giới.

Thứ năm, hội nhập quốc tế phải mang tính chất “đồng bộ, toàn diện, sâu rộng”, trong đó các lĩnh vực phải gắn kết chặt chẽ, bổ sung cho nhau trong một chiến lược tổng thể, có trọng tâm, trọng điểm với lộ trình và bước đi phù hợp.

Chúng ta đang đứng trước yêu cầu phải có một cuộc cách mạng với những cải cách mạnh mẽ, toàn diện cho phát triển. Cùng với “tinh thần đổi mới” về sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị của Nghị quyết số 18; “tư tưởng đột phá” về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia của Nghị quyết 57; định hướng về hội nhập quốc tế là “cẩm nang hành động” của Nghị quyết 59 sẽ tạo nên “bộ ba chiến lược” trong trọng tâm “Ổn định lâu dài - Phát triển bền vững - Đời sống nâng cao” do Đảng đã vạch ra. Giai đoạn Cách mạng hiện nay, chúng ta cần triển khai quyết liệt và hiệu quả theo các hướng sau:

Một là tư duy, nhận thức và hành động mới trong hội nhập quốc tế phải được quán triệt sâu rộng, đi vào cuộc sống. Theo đó, nhận thức về chủ động, tích cực hội nhập quốc tế đồng bộ, toàn diện, sâu rộng và hiệu quả là một định hướng chiến lược lớn của Đảng, là một động lực quan trọng để phát triển và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, gìn giữ và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc cần được thống nhất từ Trung ương tới địa phương, đến từng tổ chức, từng người dân và doanh nghiệp. Các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về hội nhập quốc tế, các yêu cầu, nhiệm vụ, cơ hội, quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ của Việt Nam trong hội nhập quốc tế cần được phổ biến, quán triệt sâu sắc trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân.

Hai là hội nhập kinh tế được xác định là trung tâm, hội nhập trên các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế với ưu tiên hàng đầu là cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng và thúc đẩy chuyển đổi số. Tập trung vào các ngành có lợi thế và tiềm năng, ưu tiên huy động nguồn lực cho những lĩnh vực, dự án then chốt như của hạ tầng chiến lược về giao thông, về năng lượng như đường sắt tốc độ cao, đường cao tốc, hệ thống cảng biển, sân bay; nhà máy điện hạt nhân, điện gió, điện mặt trời; giảm phát thải và trung hoà các-bon để tránh lãng phí và đạt hiệu quả cao, đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi số và cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay. Cần tận dụng hiệu quả các cam kết, thỏa thuận, liên kết kinh tế quốc tế, nhất là các FTA thế hệ mới, để tăng cường đan xen lợi ích, không để phụ thuộc vào một số ít đối tác. Hoàn thiện thể chế trong nước nhằm nâng cao năng lực thực thi các cam kết, thoả thuận quốc tế. Xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù phù hợp nhằm đẩy mạnh thu hút FDI chất lượng cao, nhất là trong các lĩnh vực mới nổi, quan trọng, động lực mới cho tăng năng suất lao động như công nghệ thông tin, viễn thông, chip bán dẫn, trí tuệ nhân tạo… Có chính sách phù hợp để thúc đẩy nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công nghệ, quản trị, kỹ năng chuyên môn cho doanh nghiệp và lao động Việt Nam. Khuyến khích doanh nghiệp Việt Nam đầu tư, kinh doanh có hiệu quả ở nước ngoài, xây dựng các thương hiệu quốc gia mang tầm quốc tế.

Ba là hội nhập về chính trị, an ninh, quốc phòng phải hướng tới mục tiêu nâng cao tiềm lực, vị thế đất nước, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy. Hội nhập quốc tế phải phát huy hiệu quả mạng lưới các quan hệ đối tác đã được xác lập để gia tăng tin cậy chính trị, tranh thủ nguồn lực cho phát triển, giải quyết các vấn đề còn tồn tại bằng biện pháp hòa bình, tăng cường hợp tác trên cơ sở tôn trọng và tuân thủ luật pháp quốc tế. Tăng cường phối hợp với các đối tác để ứng phó hiệu quả với thách thức an ninh truyền thống, phi truyền thống như vấn đề Biển Đông, an ninh nguồn nước, an ninh lương thực; chống ô nhiễm, dịch bệnh, tội phạm mạng, tội phạm xuyên quốc gia… Với thế và lực mới, chúng ta có thể vươn lên đóng vai trò nòng cốt, dẫn dắt, hòa giải trong những lĩnh vực phù hợp; đóng góp tích cực hơn vào hoạt động gìn giữ hòa bình, cứu hộ, cứu nạn quốc tế; đa dạng hóa hợp tác quốc phòng, an ninh, phát triển nền công nghiệp quốc phòng, an ninh tự lực, tự cường, hiện đại, lưỡng dụng.

Bốn là khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phải được xác định là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực phát triển nhanh lực lượng sản xuất, hoàn thiện quan hệ sản xuất theo tinh thần của Nghị quyết 57. Do đó hội nhập quốc tế về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phải hướng tới việc đưa các chuẩn mực, quy định về khoa học, công nghệ trong nước tiệm cận với các chuẩn mức, thông lệ quốc tế tiên tiến. Qua đó, nhanh chóng nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, mở rộng không gian phát triển của đất nước, huy động, tranh thủ được nguồn lực quốc tế và phát huy mạnh mẽ nguồn lực trong nước để phát triển các ngành công nghiệp ưu tiên, mũi nhọn, các ngành mới nổi và các lĩnh vực đổi mới sáng tạo.

Năm là đẩy mạnh hội nhập toàn diện về văn hoá, xã hội, du lịch, môi trường, giáo dục - đào tạo, y tế và các lĩnh vực khác. Về văn hoá, hội nhập nhưng phải gắn với bảo tồn, phát huy và quảng bá văn hóa dân tộc; phát triển các ngành công nghiệp văn hoá, công nghiệp nội dung, các sản phẩm, thương hiệu văn hoá có chất lượng và năng lực cạnh tranh toàn cầu. Về y tế, tăng cường hợp tác về nghiên cứu, ứng dụng khoa học trong y tế trong chăm sóc sức khỏe nhân dân, phát triển một số trung tâm y tế chuyên sâu ngang tầm quốc tế để chữa, trị bệnh theo phương châm “Đông - Tây y kết hợp”. Về giáo dục - đào tạo, đẩy mạnh chuẩn hoá, đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục của các cơ sở đào tạo trong nước ngang tầm khu vực và quốc tế. Về du lịch, mở rộng, đa dạng hoá thị trường, chú trọng các thị trường có tiềm năng, có nguồn khách lớn, có mức chi tiêu cao và lưu trú lâu ngày. Về lao động, triển khai các cơ chế phát triển nhân lực chất lượng cao, nâng cao kỹ năng học tập suốt đời, năng lực và năng suất của lực lượng lao động Việt Nam. Và cao nhất, là xây dựng chiến lược phát triển con người Việt Nam của “thế hệ vươn mình”, để đến năm 2045 những chàng trai, cô gái tuổi mười tám, đôi mươi sánh vai cùng bạn bè quốc tế cả về trí tuệ và thể chất.

Sáu là khắc phục điểm nghẽn về thực thi cam kết, thỏa thuận quốc tế và đẩy mạnh hoàn thiện thể chế, chính sách. Trong đó, đẩy mạnh việc rà soát, nội luật hoá pháp luật quốc tế để thực hiện đầy đủ, đồng bộ và hiệu quả các nghĩa vụ, cam kết của ta. Các tổ chức, đoàn thể phải tăng cường giám sát thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật và các cam kết về hội nhập quốc tế. Các bộ, ngành, địa phương phải đẩy mạnh đôn đốc việc thực hiện các cam kết, thoả thuận quốc tế. Đồng thời, thể chế hoá, cụ thể hoá các chiến lược hội nhập quốc tế theo ngành, lĩnh vực, nhất là xây dựng, hoàn thiện pháp luật liên quan đến kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế tuần hoàn, chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi số, giảm phát thải các-bon, không gian vũ trụ.

Bảy là phát huy tinh thần của Nghị quyết 18 trong hội nhập quốc tế, kiện toàn các cơ quan chuyên trách theo hướng tinh, gọn, mạnh, hiện đại, chuyên nghiệp. Mục tiêu là đưa các cơ chế này hoạt động hiệu quả hơn, tạo chuyển biến trong phối hợp triển khai hội nhập quốc tế giữa các cấp, các ngành, các địa phương và từng người dân, doanh nghiệp. Coi công tác cán bộ là “gốc”, xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác hội nhập, có chuyên môn, kỹ năng cao, ngang tầm quốc tế, có khả năng tham gia hoà giải, giải quyết tranh chấp quốc tế. Đổi mới, nâng cao tính chủ động, sáng tạo của địa phương, người dân và doanh nghiệp trong tham gia hội nhập quốc tế.

Cuối cùng hội nhập quốc tế chỉ thành công khi hội nhập trở thành văn hóa tự giác của mọi tổ chức cá nhân, doanh nghiệp, địa phương; phát huy được vai trò trung tâm, sự tham gia tích cực, chủ động, sáng tạo của cả người dân, doanh nghiệp, địa phương trong gắn kết hội nhập quốc tế và hội nhập trong nước, kết nối giữa các vùng, miền, địa phương, kết nối giữa các ngành, lĩnh vực, kết nối giữa nghiên cứu và triển khai… để đưa hội nhập thành các kết quả cụ thể.

Bác Hồ của chúng ta đã vận dụng sáng tạo tư tưởng kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tìm ra con đường cứu nước, đưa Việt Nam thoát khỏi cảnh nô lệ, giành lại độc lập, tự do cho dân tộc. Trong thế giới phụ thuộc lẫn nhau như ngày nay, sự phát triển của mỗi quốc gia - dân tộc không thể biệt lập, đứng bên ngoài những tác động của thế giới và thời đại, của thời cuộc và cục diện của nó. Noi gương Bác, chúng ta phải bắt nhịp với sự vận động của thế giới, tìm ra con đường mang lại hòa bình, ổn định, thịnh vượng, phát triển và xây dựng vị thế cao hơn, vững chắc hơn cho đất nước trong kỷ nguyên mới.

Đất nước đang đứng trước cơ hội lớn để vươn mình, nhưng thách thức cũng vô cùng to lớn. Những thành quả của hội nhập cho đến nay đã góp phần tích lũy thế và lực cho sự bứt phá tiếp theo. Tiếp nối tinh thần đó, Nghị quyết 59 đánh dấu bước chuyển quan trọng của Đảng ta về tư duy và định hướng hội nhập quốc tế trong giai đoạn tới, tạo động lực đưa đất nước tiến tới đài vinh quang của độc lập, tự do, hạnh phúc, phồn thịnh, trường tồn./.

Tô Lâm

Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam

Có thể bạn quan tâm

Nên xem

Kinh tế và văn hóa - cặp trụ cột chiến lược định hình con đường phát triển bền vững của Hà Nội

Kinh tế và văn hóa - cặp trụ cột chiến lược định hình con đường phát triển bền vững của Hà Nội

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng và nâng cao vị thế quốc gia, việc Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 79-NQ/TƯ về phát triển kinh tế nhà nước và Nghị quyết số 80-NQ/TƯ về phát triển văn hóa Việt Nam đánh dấu một bước hoàn thiện quan trọng trong tư duy chiến lược của Đảng.
Hà Nội tiên phong đưa Nghị quyết của Đảng vào cuộc sống: Chuyển từ tư duy đến hành động thực chất

Hà Nội tiên phong đưa Nghị quyết của Đảng vào cuộc sống: Chuyển từ tư duy đến hành động thực chất

Thực hiện chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm, Hà Nội đang cho thấy một tinh thần quyết liệt trong việc cụ thể hóa các Nghị quyết của Đảng thành chương trình hành động thực chất. Phương châm “nói đi đôi với làm”, lấy hiệu quả đo đếm được làm thước đo đang trở thành kim chỉ nam để Thủ đô bứt phá trong kỷ nguyên mới.
Văn hóa trở thành nền tảng vững chắc và trụ cột của phát triển đất nước

Văn hóa trở thành nền tảng vững chắc và trụ cột của phát triển đất nước

Tối 27/2, Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội thực hiện chương trình Thời sự trực tiếp đặc biệt với chủ đề "Hà Nội tiên phong, gương mẫu thực hiện các nghị quyết chiến lược của Trung ương", trong đó có Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam. Đây được xem là bước ngoặt quan trọng trong tư duy về vai trò của văn hóa, từ "nền tảng tinh thần" sang "nền tảng vững chắc" cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước.
Hà Nội kiến tạo động lực phát triển mới: Đổi mới tư duy và cân bằng giá trị phát triển

Hà Nội kiến tạo động lực phát triển mới: Đổi mới tư duy và cân bằng giá trị phát triển

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, Thủ đô không chỉ là trung tâm hành chính chính trị kinh tế mà còn giữ vai trò tiên phong kiến tạo tư duy phát triển bền vững. Hà Nội đang chủ động chuyển mình, cân bằng giữa sức mạnh kinh tế và sức mạnh văn hóa để nâng tầm năng lực dẫn dắt phát triển cả nước.
Hà Nội chủ động, gương mẫu đưa Nghị quyết 79, 80 vào cuộc sống

Hà Nội chủ động, gương mẫu đưa Nghị quyết 79, 80 vào cuộc sống

PGS.TS Trần Đình Thiên cho biết, ông đặt nhiều kỳ vọng vào sự phát triển của Hà Nội, xuất phát từ nguồn lực, năng lực và sứ mệnh đặc biệt của Thủ đô. Theo ông, người dân cả nước đều kỳ vọng Hà Nội sẽ có bước phát triển mạnh mẽ hơn trong giai đoạn tới và niềm tin vào điều đó đang ngày càng được củng cố.
Phường Tây Hồ gặp mặt ứng cử viên đại biểu HĐND, nhiệm kỳ 2026-2031

Phường Tây Hồ gặp mặt ứng cử viên đại biểu HĐND, nhiệm kỳ 2026-2031

Ngày 27/2, Ủy ban Bầu cử phường Tây Hồ tổ chức Hội nghị gặp mặt các ứng cử viên nhằm quán triệt yêu cầu, định hướng nội dung và thống nhất nhận thức, trách nhiệm trong quá trình vận động bầu cử.
Phát huy sức mạnh kinh tế - văn hóa để kiến tạo Thủ đô bền vững

Phát huy sức mạnh kinh tế - văn hóa để kiến tạo Thủ đô bền vững

Trước yêu cầu của giai đoạn phát triển mới, nơi đổi mới mô hình tăng trưởng và nâng cao vị thế quốc gia trở thành đòi hỏi cấp thiết, việc ban hành Nghị quyết 79 về phát triển kinh tế nhà nước và Nghị quyết 80 về phát triển văn hóa Việt Nam đã khẳng định bước hoàn thiện quan trọng trong tư duy chiến lược của Đảng.

Tin khác

Nghị quyết 80: Từ nền tảng tinh thần đến động lực phát triển bền vững

Nghị quyết 80: Từ nền tảng tinh thần đến động lực phát triển bền vững

Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam đang mở ra một bước chuyển quan trọng trong tư duy và hành động. Nếu trước đây, văn hóa được xác định là nền tảng tinh thần của xã hội, thì nay được nâng tầm thành nền tảng vững chắc của sự phát triển, là trụ cột và cũng là hệ điều tiết cho tăng trưởng nhanh, bền vững.
Nghị quyết 79: Phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong giai đoạn mới

Nghị quyết 79: Phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong giai đoạn mới

Việc học tập, quán triệt Nghị quyết số 79-NQ/TW được xác định là nhiệm vụ quan trọng nhằm phát huy hiệu quả các nguồn lực của kinh tế nhà nước, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững trong giai đoạn mới.
Người dân hưởng lợi gì từ các chính sách công nghệ có hiệu lực năm 2026?

Người dân hưởng lợi gì từ các chính sách công nghệ có hiệu lực năm 2026?

Bước sang năm 2026, nhiều chính sách công nghệ quan trọng bắt đầu có hiệu lực, tác động trực tiếp tới đời sống số của người dân. Từ việc tài sản số được pháp luật công nhận, quy định minh bạch với trí tuệ nhân tạo, đến cơ chế voucher hỗ trợ sản phẩm Make in Vietnam và nguyên tắc “khai báo một lần” trong dịch vụ công, khung pháp lý mới đang định hình lại cách xã hội tiếp cận và sử dụng công nghệ.
Tạo kỳ tích sông Hồng từ mùa xuân mới

Tạo kỳ tích sông Hồng từ mùa xuân mới

Thủ đô Hà Nội, trái tim cả nước, không chỉ là trung tâm hành chính, chính trị mà còn là một trong hai trung tâm kinh tế lớn của nước nhà.
“Kỳ tích sông Hồng”: Động lực hành động của cán bộ, đảng viên và nhân dân Thủ đô

“Kỳ tích sông Hồng”: Động lực hành động của cán bộ, đảng viên và nhân dân Thủ đô

Trước thềm Xuân Bính Ngọ 2026, không khí triển khai nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội tại Hà Nội đang lan tỏa mạnh mẽ từ cấp thành phố đến từng địa bàn cơ sở.
Dấu ấn Thủ đô qua Lễ mở ký Công ước Hà Nội

Dấu ấn Thủ đô qua Lễ mở ký Công ước Hà Nội

Lễ mở ký Công ước Hà Nội không chỉ là một sự kiện đối ngoại quan trọng, mà còn là minh chứng sinh động cho vai trò, vị thế và bản lĩnh của Thủ đô trong tiến trình hội nhập quốc tế của đất nước. Từ không gian nghìn năm văn hiến, Hà Nội tiếp tục khẳng định hình ảnh một trung tâm đối thoại, hợp tác và trách nhiệm, góp phần hiện thực hóa đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa của Việt Nam.
Nhiệm vụ trọng tâm của công tác đối ngoại trong kỷ nguyên mới

Nhiệm vụ trọng tâm của công tác đối ngoại trong kỷ nguyên mới

Báo Lao động Thủ đô trân trọng giới thiệu bài trả lời phỏng vấn của đồng chí Nguyễn Mạnh Cường, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Bộ, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao về những nét mới quan trọng của đường lối đối ngoại và những nhiệm vụ trọng tâm của công tác đối ngoại trong kỷ nguyên phát triển mới.
Trực tiếp tọa đàm “Kiến tạo Kỳ tích sông Hồng”

Trực tiếp tọa đàm “Kiến tạo Kỳ tích sông Hồng”

Trong không khí rộn ràng chào đón Xuân Bính Ngọ, khi đất trời đang giao hòa, lòng người hướng về những khởi đầu mới, Cơ quan Báo và phát thanh truyền hình Hà Nội tổ chức tọa đàm “Kiến tạo Kỳ tích sông Hồng” - một diễn đàn được tổ chức trong không khí vui tươi, phấn khởi chào mừng Xuân mới để phân tích, làm rõ những định hướng quan trọng và tầm nhìn chiến lược của lãnh đạo Trung ương và thành phố Hà Nội dành cho dòng sông đã nuôi dưỡng hồn cốt Thăng Long - Hà Nội suốt hàng nghìn năm lịch sử.
Chuyển đổi số - Dấu ấn trong thành tựu Ngoại giao

Chuyển đổi số - Dấu ấn trong thành tựu Ngoại giao

Báo Lao động Thủ đô trân trọng giới thiệu bài viết có tiêu đề: “Chuyển đổi số - dấu ấn trong thành tựu ngoại giao” của Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Anh Tuấn về những dấu ấn trong công tác chuyển đổi số của ngành Ngoại giao góp phần xây dựng nền ngoại giao Việt Nam chuyên nghiệp, hiện đại, an toàn và hiệu quả trong kỷ nguyên số.
Ngoại giao kinh tế kiến tạo giá trị bền vững cho tương lai

Ngoại giao kinh tế kiến tạo giá trị bền vững cho tương lai

Trao đổi với báo chí, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Minh Hằng khẳng định, năm 2025 có ý nghĩa nền tảng nhằm tạo đà, tạo thế đưa đất nước tiến nhanh, tiến mạnh vào kỷ nguyên phát triển mới. Trong bối cảnh thế giới đầy biến động, trước những thách thức thiên tai chưa từng có trong nước, công tác ngoại giao kinh tế đã thể hiện vai trò là một động lực trung tâm, không chỉ góp phần giúp “xoay chuyển tình thế” mà còn kiến tạo giá trị bền vững cho tương lai.
Xem thêm
Phiên bản di động