M
11:56 | 02/07/2020

Khi người tham gia bảo hiểm y tế ngày một tăng

(LĐTĐ) Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế (BHYT) toàn dân đã đạt gần 90% dân số; đối tượng tham gia BHYT tăng nhanh qua các năm; quyền lợi của người tham gia BHYT được đảm bảo… Đó là những kết quả nổi bật trong tổ chức thực hiện chính sách BHYT sau gần 6 năm triển khai thực hiện Luật BHYT sửa đổi.

Tham gia bảo hiểm y tế đủ 5 năm liên tục, được quyền lợi gì?
Tăng cường đối thoại với người dân và doanh nghiệp về chính sách bảo hiểm xã hội

Số người tham gia BHYT tăng bình quân 48% mỗi năm

Đánh giá về kết quả nổi bật sau 6 năm triển khai Luật BHYT sửa đổi, ông Nguyễn Lương Sơn - Phó Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam cho biết: Thực tiễn cho thấy chính sách, pháp luật BHYT ngày càng hoàn thiện, con đường tiến tới thực hiện BHYT toàn dân được chỉ rõ tại các văn kiện của Đảng, quy định trong Luật BHYT và đang dần trở thành hiện thực. Bảo hiểm xã hội Việt Nam, với trách nhiệm là cơ quan tổ chức thực hiện đã nỗ lực không ngừng để việc thực thi pháp luật BHYT hiệu quả nhất, để mọi người dân sớm được hưởng quyền an sinh về BHYT.

khi nguoi tham gia bao hiem y te ngay mot tang
Quyền lợi khám chữa bệnh của người có thẻ BHYT không ngừng được mở rộng. Ảnh: B.D

Kết quả nổi bật nhất, theo ông Nguyễn Lương Sơn là tỷ lệ bao phủ BHYT toàn dân đã đạt gần 90% dân số, đối tượng tham gia BHYT tăng nhanh qua các năm (bình quân mỗi năm tăng 48%), từ năm 2015-2019 tăng hơn 15 triệu người. Đến hết năm 2019, cả nước có 85,636 triệu người tham gia BHYT, trong đó diện bao phủ đã tập trung vào các nhóm yếu thế, như: Nhóm người lao động đã tham gia BHYT đạt hơn 90%; nhóm hưu trí, mất sức lao động, bảo trợ xã hội đạt 100% (khoảng 3,1 triệu người); nhóm được ngân sách nhà nước hỗ trợ như hộ cận nghèo, học sinh, sinh viên đạt xấp xỉ 100% và trên 17,5 triệu người tham gia theo hình thức hộ gia đình.

Như vậy, đến nay, Việt Nam cơ bản đã hoàn thành mục tiêu BHYT toàn dân và về đích trước thời hạn so với mục tiêu đề ra tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 22/11/2012 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo hiểm xã hội, BHYT giai đoạn 2012-2020. Trong khi đó, theo thống kê từ một số quốc gia có nền kinh tế phát triển, để đạt mục tiêu BHYT toàn dân nói trên phải mất từ 40 đến 80 năm. “Do đó, mục tiêu đến năm 2025 tỉ lệ tham gia BHYT đạt 95% dân số như Nghị quyết 20-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương khoá XII về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới đặt ra là hoàn toàn khả thi”, Phó Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam cho biết.

Cũng theo ông Phạm Lương Sơn, để đạt được kết quả khả quan như vậy là do sự nỗ lực của ngành Bảo hiểm xã hội và sự phối hợp chặt chẽ của các bộ, ngành liên quan. Cụ thể, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã chủ động đề xuất với Chính phủ giao chỉ tiêu thực hiện BHYT cho từng địa phương; tích cực phối hợp với Bộ Y tế và các bộ, ngành có liên quan, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố giải quyết kịp thời các khó khăn, vướng mắc và quyết liệt chỉ đạo Bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố thực hiện các biện pháp để người dân tham gia BHYT thuận lợi nhất; mở rộng hệ thống đại lý thu bảo hiểm xã hội, BHYT đến Ủy ban nhân dân xã, đơn vị sự nghiệp, tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức kinh tế. Tính đến quý IV/2019, toàn quốc có 12,48 nghìn Đại lý thu với 37,35 nghìn điểm thu và 52,18 nghìn nhân viên đại lý thu; đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin và tích cực cải cách thủ tục hành chính tạo điều kiện thuận lợi cho người tham gia BHYT.

Đảm bảo quyền lợi của người tham gia

Theo thống kê của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, nếu như năm 2014, mới có 2.111 cơ sở khám chữa bệnh ký hợp đồng khám chữa bệnh BHYT với cơ quan Bảo hiểm xã hội thì đến tháng 6/2020, số cơ sở khám chữa bệnh BHYT là 2.571 cơ sở, tăng 22% so với năm 2014. Đặc biệt, số cơ sở khám chữa bệnh tư nhân ký hợp đồng khám chữa bệnh BHYT đã tăng gần gấp đôi từ 424 cơ sở khám chữa bệnh năm 2014 lên 835 cơ sở  năm 2020.

Luật BHYT ra đời từ năm 2008 và được sửa đổi, bổ sung vào năm 2014, là cơ sở pháp lý thể chế hóa quan điểm, định hướng của Đảng và Nhà nước trong việc thực hiện chính sách tài chính y tế công thông qua BHYT toàn dân theo định hướng công bằng, hiệu quả và phát triển. Trong đó đã quy định “BHYT là hình thức bảo hiểm bắt buộc được áp dụng đối với các đối tượng theo quy định của Luật này để chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận do Nhà nước tổ chức thực hiện”.

Cơ hội tiếp cận với dịch vụ khám chữa bệnh BHYT ngày càng mở rộng, số lượt khám chữa bệnh BHYT được quỹ BHYT thanh toán cũng tăng mạnh. Nếu như năm 2009 mới có 92,1 triệu lượt khám chữa bệnh  BHYT thì đến năm 2019 số lượt người đi khám chữa bệnh BHYT đã tăng gần gấp hai lần với 186 triệu lượt. Số chi khám bệnh, chữa bệnh từ quỹ BHYT cũng ngày càng tăng, từ 15,5 nghìn tỷ đồng (tương đương 970 triệu USD) của năm 2009, tăng lên đến hơn 100 nghìn tỷ đồng (tương đương khoảng 4 tỷ USD) của năm 2019.

Với hơn 18.000 dịch vụ kỹ thuật y tế bao gồm cả những dịch vụ kỹ thuật cao chi phí lớn như can thiệp tim mạch, phẫu thuật tim mạch, phẫu thuật nội soi, MRI, CT, PET-CT…; trên 1.000 hoạt chất, sinh phẩm tân dược và hàng trăm vị thuốc đông y, thuốc từ dược liệu bao gồm cả các thuốc tim mạch, điều trị ung thư đắt tiền…; hàng ngàn loại vật tư y tế bao gồm cả vật tư y tế thay thế như: Máy tạo nhịp tim, stent mạch vành, khớp nhân tạo… phạm vi quyền lợi về BHYT của Việt Nam được nhiều tổ chức quốc tế đánh giá là rộng rãi so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới.

Chính sách BHYT cũng đã góp phần giảm chi trực tiếp từ tiền túi hộ gia đình cho dịch vụ y tế, góp phần tạo nên sự công bằng trong chăm sóc sức khỏe, đặc biệt đối với nhóm người yếu thế trong xã hội như người nghèo, cận nghèo, người khuyết tật, người thuộc đối tượng bảo trợ xã hội, trẻ em dưới 6 tuổi. Nhiều trường hợp đã được quỹ BHYT chi trả chi phí khám chữa bệnh BHYT trong năm lên đến hàng tỷ đồng.

B.Duy

Nguồn :